Nghiên cứu đột biến gen K-RAS và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư đại trực tràng
Luận án Nghiên cứu đột biến gen K-RAS và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư đại trực tràng.Ung thư (UT) là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, bệnh có xu hướng ngày càng gia tăng. Dựa trên ước tính tình hình UT toàn cầu năm 2008 (GLOBOCAN 2008), trên thế giới có khoảng 12.700.000 trường hợp UT và 7.600.000 trường hợp tử vong do UT trong năm 2008 [75].
MÃ TÀI LIỆU |
BQT.YHOC. 00159 |
Giá : |
50.000đ |
Liên Hệ |
0915.558.890 |
Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là nguyên nhân gây tử vong cao hàng thứ 3 trong các tử vong do UT nói chung. Theo Hiệp hội phòng chống UT quốc tế (Union for International Cancer Control – UICC), ước tính trên thế giới mỗi năm có khoảng 1.000.000 trường hợp UTĐTT mới được phát hiện và khoảng hơn 500.000 người chết vì căn bệnh này [36]. Tỉ lệ mắc bệnh giữa các vùng miền, các châu lục có sự khác nhau. Ở Việt Nam, UTĐTT đứng thứ 5 sau các UT của dạ dày, phổi, vú và vòm họng. Trong UT đường tiêu hóa thì UTĐTT đứng thứ 2, sau UT dạ dày. Theo thống kê của Bệnh viện K Hà Nội, tỉ lệ mắc UTĐTT là 9% tổng số bệnh nhân (BN) UT nói chung. Tuy nhiên, so với các UT của đường tiêu hóa thì UTĐTT là loại có tiên lượng tốt nhất [1], [8], [18], [19].
Cơ chế hình thành và phát triển của UTĐTT là do biến đổi và tích lũy các gen trong tế bào của niêm mạc đại trực tràng (ĐTT). Sự tích lũy dần các biến dị di truyền thường phải trải qua nhiều năm (từ 10 – 20 năm), và điều này phù hợp với các nghiên cứu dịch tễ học di truyền về diễn biến của UTĐTT trải qua nhiều bước [32], [76].
Sự phát triển vượt bậc của ngành Công nghệ y sinh, hiện nay đã cho phép xác định tương đối chính xác, đầy đủ và nhanh hầu như tất cả các dạng đột biến quan trọng trong những dòng tế bào UT phổ biến như UT phổi, u lympho ác tính, UTĐTT…. Điều đáng ngạc nhiên là mặc dù mang nhiều đột biến nhưng khả năng phát triển của tế bào UT dường như lại lệ thuộc chủ yếu vào nguồn tín hiệu sinh trưởng của một hoặc một nhóm gen sinh UT (oncogene) nhất định. Những oncogene này mã hóa các protein đóng vai trò mắt xích trong các con đường tín hiệu nội bào. Những đột biến này làm cho các tế bào UT có khả năng tăng sinh vô hạn, liên tục phân chia và thực hiện quá trình xâm lấn, di căn… Tuy nhiên, chính đặc điểm này cũng làm phơi bày “gót chân Achilles” của tế bào UT. Bằng việc “đánh sập” các oncogene chủ chốt như HER2, K-RAS, β-catenin, cyclin E, B-Raf… bằng công nghệ iRNA, các nhà khoa học đã thành công trong việc ức chế sự phát triển của nhiều loại tế bào UT in vitro [49]. Những nghiên cứu trên mô hình chuột biến đổi gen tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của các gen đích trong nhiều bệnh UT, trong đó có oncogene K-ras trong UTĐTT [74]… Từ những bằng chứng trên, một thế hệ mới các thuốc điều trị UT có khả năng tác động chính xác tới các đích tiềm năng trong tế bào UT đã ra đời – đó là liệu pháp điều trị đích.
Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều nghiên cứu về UTĐTT, nhưng chủ yếu là về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi và mô bệnh học (MBH), còn ít thấy có những nghiên cứu về đột biến gen trong UT nói chung và trong UTĐTT nói riêng. Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu đột biến gen K-RAS và mối liên quan với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư đại trực tràng” được tiến hành nhằm 2 mục tiêu chính sau:
- Nghiên cứu tình trạng đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng.
- Tìm hiểu mối liên quan giữa đột biến gen K-RAS với một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, giải phẫu bệnh và nồng độ CEA ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng.
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ, ký hiệu viết tắt trong luận án
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Gen và ung thư đại trực tràng 3
1.2. Gen K-RAS và ung thư đại trực tràng 8
1.3. Yếu tố nguy cơ và quá trình phát sinh ung thư đại trực tràng 16
1.4. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư đại trực tràng 22
1.5. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 34
1.5.1. Nghiên cứu trên thế giới 34
1.5.2. Nghiên cứu ở Việt Nam 36
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1. Đối tượng nghiên cứu 37
2.2. Phương pháp nghiên cứu 37
2.3. Các bước tiến hành 43
2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 48
2.5. Đạo đức nghiên cứu 52
2.6. Phương pháp xử lý số liệu 53
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54
3.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 54
3.2. Đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân bị ung thư biểu mô đại trực tràng 65
3.3. Mối liên quan giữa đột biến gen K-RAS với một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, giải phẫu bệnh và nồng độ CEA ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng 71
Chương 4. BÀN LUẬN 83
4.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 83
4.2. Đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng 88
4.3. Mối liên quan giữa đột biến gen K-RAS với đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, giải phẫu bệnh và nồng độ CEA ở bệnh nhân ung thư biểu mô đại trực tràng 94
KẾT LUẬN 108
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TIẾNG VIỆT
- Phạm Hoàng Anh (1993), “Ung thư ở người Hà Nội 1991-1992”, Y học Việt Nam, 7, tr. 14-21.
- Trần Ngọc Ân (1983), “Hội chứng thấp khớp cận ung thư”, Nội khoa, 2, tr. 24,32.
- Vi Trần Doanh (2006), Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ di căn xa của ung thư đại trực tràng tại Bệnh viện Hữu Nghị từ 2003 – 2004, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội.
- Phạm Văn Duyệt (2002), Nghiên cứu đặc điêm lâm sàng và một số biện pháp nâng cao chất lượng điều trị ngoại khoa ung thư đại tràng tại bệnh viện đa khoa Việt Tiệp Hải Phòng, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y, Hà Nội.
- Chu Văn Đức (2010), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của ung thư đại tràng”, Y học thực hành, 5(715), tr. 20-25.
- Nguyễn Bá Đức, Nguyễn Chấn Hùng (1999), “Chương trình phát triển mạng lưới ung thư tại Việt Nam 1999 – 2000 và 2000 – 2005”, Thông tin Y Dược, số đặc biệt chuyên đề ung thư, Hà Nội, tr. 1-6.
- Phan Văn Hạnh (2004), Nhận xét tổn thương ung thư đại trực tràng qua nội soi ống mềm đối chiếu với lâm sàng và giải phẫu bệnh tại Bệnh viện K từ 2000 – 2004, Luận văn Bác sĩ CK II, Đại học Y Hà Nội.
- Nguyễn Văn Hiếu, Đoàn Hữu Nghị (1993), “Nhận xét chẩn đoán và điều trị ung thư đại tràng tại bệnh viện K từ năm 1983 – 1993”, Y học Việt Nam, 7, tr. 54-8.
- Nguyễn Văn Hiếu (2002), Nghiên cứu mức độ xâm lấn của ung thư trực tràng qua lâm sàng, nội soi và siêu âm trong trực tràng, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội.
- Mai Minh Huệ (2008), “Nội soi đại tràng ống mềm”, Nội soi tiêu hóa, Nhà xuất bản Y học, tr.128-137.
- Nguyễn Chấn Hùng (2005), “Các hiểu biết mới về bệnh ung thư”, Đặc san ung thư học, quí III, Hội Phòng chống ung thư Việt Nam, tr. 79-88.
- Phạm Gia Khánh, Vũ Huy Nùng (2002), “Ung thư đại tràng”, Bệnh học Ngoại khoa, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, tập 2, tr. 277-291.
- Vũ Văn Khiên và cs (2012), Nghiên cứu hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán và sàng lọc để phát hiện sớm ung thư biểu mô tuyến đại trực tràng, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ Quốc Phòng.
- Hoàng Gia Lợi (1995), “Các khối u ruột non và đại tràng”, Bài giảng Nội Tiêu hóa, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, tr. 215-225.
- Đinh Quí Minh (2005), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, mô bệnh học và xét nghiệm CEA ở bệnh nhân cao tuổi có polyp đại tràng, Luận văn Bác sĩ CK II, Học viện Quân y, Hà Nội.
- Lê Quang Minh (2012), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và biến đổi biểu hiện gen của ung thư biểu mô đại trực tràng bằng phương pháp Microarray, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y, Hà Nội.
- Hoàng Kim Ngân (2006), Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh nội soi, mô bệnh học và kháng nguyên biểu hiện gen P53, Ki67, Her-2/neu trong ung thư đại trực tràng, Luận văn Bác sĩ CK II, Học viện Quân y, Hà Nội.
- Đoàn Hữu Nghị, Phan Văn Hạnh, Phạm Quốc Đạt (1997), “Tổn thương polyp và ung thư qua 252 trường hợp soi đại tràng tại Bệnh viện K”, Nội khoa, 1, tr. 84-88.
- Đoàn Hữu Nghị và cs (2005), “Ghi nhận ung thư tại Viện E từ 2001 – 2005”, Tạp chí Thông tin Y dược, tr.154-158.
- Nguyễn Viết Nguyệt (2008), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ung thư đại trực tràng giai đoạn DukesA tại Bệnh viện K từ 1/2001 đến 10/2007, Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội.
- Phạm Văn Nhiên (2000), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư trực tràng và đại tràng sigma tại Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y, Hà Nội.
- Nguyễn Thúy Oanh, Lê Quang Nghĩa (2003), “Kết quả chẩn đoán 176 trường hợp ung thư qua nội soi đại tràng bằng ống soi mềm”, Y học TP. Hồ Chí Minh, 1(7), tr. 148-152.
- Nguyễn Quang Thái, Đoàn Hữu Nghị, Khổng Thị Hồng (2000), “Kháng nguyên ung thư biểu mô phôi (CEA) trong ung thư đại tràng trước và sau phẫu thuật”, Tạp chí Thông tin Y dược, Số chuyên đề ung thư tháng 8/2000, tr. 94-98.
- Hoàng Trọng Thảng (2006), “Ung thư đại tràng”, Bệnh tiêu hóa, gan mật, Nhản xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 255-62.
- Hồ Hữu Thọ, Nguyễn Duy Bắc, Trần Văn Khoa, Phạm Ngọc Tuấn (2011), “Nghiên cứu phát hiện đột biến gen K-RAS bằng kỹ thuật REMS – PCR để sàng lọc, chẩn đoán sớm một số ung thư đường tiêu hóa”, Tạp chí – Y Dược học Quân sự, 6, tr. 53-59.
- Nguyễn Hữu Thọ (2005), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương giải phẫu bệnh, kết quả điều trị ung thư đại tràng sigma tại Viện Quân y 103, Luận văn Bác sĩ CK II, Học viện Quân y, Hà Nội.
- Nguyễn Khánh Trạch, Phạm Thị Thu Hồ (1998), “Ung thư đại tràng”, Bài giảng Bệnh học Nội khoa, Tập II, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 224-39.
- Tạ Thành Văn, Nguyễn Kiến Dụ, Trần Vân Khánh (2011), “Xây dựng qui trình xác định đột biến gen K-RAS ở bệnh nhân ung thư đại trực tràng”, Tạp chí Y học Việt Nam, 2(382), tr. 34-37.
- Nguyễn Văn Vân (2000), “Ung thư đại tràng”, Bách khoa thư bệnh học, Nhà xuất bản từ điển bách khoa, 1, tr. 300-3.
- Phan Thị Thanh Vân (2006), “Hình ảnh nội soi và mô bệnh học niêm mạc đại tràng trên bệnh nhân đi ngoài phân có máu đại thể”, Y học thực hành, 2(535), tr. 15-7.

Recent Comments