Đánh giá tác động của sonde JJ niệu quản sau tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng

Đánh giá tác động của sonde JJ niệu quản sau tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng. Sỏi tiết niệu là bệnh lý khá phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trong sỏi tiết niệu, sỏi niệu quản chiếm 25-30% [1].
Phần lớn sỏi niệu quản do sỏi từ thận rơi xuống (chiếm 80%  các  trường hợp) trong đó sỏi niệu quản ở 1/3 dưới chiếm 70 – 75%, 25% nằm ở 1/3 trên và 1/3 giữa [1], [11].
Sỏi niệu quản thường làm tắc đường  niệu quản gây biến chứng rất nhanh và nặng đến thận .[3]
Các phương pháp can thiệp ít sang chấn trong điều trị sỏi niệu ngày càng đa dạng, nhất là trong khoảng 25 năm nay như : Tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi nội soi ngược dòng, lấy sỏi thận qua da …  Mỗi phương pháp đều có vai trò nhất định, có khi phải phối hợp nhiều phương pháp điều trị với nhau. Trong đó, phương pháp tán sỏi nội soi ngược dòng đã được biết đến từ lâu  Lyon (1978) Perez- Castro và Martinez – Pinero (1980) [18].
Nhờ vào những thành tựu to lớn về khoa học kỹ thuật, năng lượng, điện tử, quang học. Các năng lượng phá sỏi như: Thuỷ điện lực, điện động học, siêu âm học…  Việc chế tạo ra các ống nội soi cứng và mềm có đường kính ngày càng nhỏ, cho phép các nhà tiết niệu thực hiện kỹ thuật được dễ dàng  [18].  Tán sỏi qua nội soi (Endo Uroscopic Lithotrypsy)…đã giải quyết tới 90% các trường hợp sỏi, phẫu thuật mổ hở chỉ còn < 10% [3], [14].

MÃ TÀI LIỆU

NGH.00010

GIÁ:

 

LIÊN HỆ

0927.007.596


Ở Việt Nam tán sỏi niệu quản qua nội soi đã được thực hiện từ những thập niên 90 , đã triển khai tại rất nhiều bệnh viện chuyên sâu và các bệnh viện lớn thu được nhiều thành công.
Phương pháp điều trị này có ưu điểm là không tạo ra vết mổ cho bệnh nhân và rút ngắn thời gian điều trị,  tuy nhiên vẫn cần phải dẫn lưu đường tiết niệu để tránh các biến chứng như sỏi rơi xuống quá nhiều làm tắc niệu quản, phù nề niệu quản…  Sonde JJ niệu quản giúp dẫn lưu nước tiểu từ thận xuống bàng quang, tránh tắc nghẽn sau tán sỏi , đồng thời chính sonde JJ là một phương tiện tốt giúp nong rộng niệu quản tạo điều kiện cho các mảnh sỏi dễ rơi xuống .Bệnh nhân có thể sinh hoạt cuộc sống hàng ngày bình thường với một ống thông đặt trong cơ thể lâu hàng tháng với ít nguy cơ biến chứng.. Ngày nay, cùng với sự phát triển của phương pháp điều trị nội soi, thì đặt sonde JJ niệu quản là sự lựa chọn hàng đầu để dự phòng tắc niệu quản sau tán sỏi.
Bên cạnh quan điểm của các tác giả thừa nhận vai trò tích cực của sonde JJ niệu quản, vẫn còn không ít các ý kiến cho rằng không nên sử dụng sonde JJ niệu quản trong nội soi tán sỏi ngược dòng. Bởi vì sonde JJ không làm giảm các biến chứng sau tán sỏi, hoặc do bản thân sonde JJ gây ra nhiều biến chứng cho bệnh nhân .Do đó cho đến nay, việc sử dụng sonde JJ như là một biện pháp dự phòng tắc niệu quản sau nội soi tán sỏi ngược dòng vẫn đang còn tranh luận.
Từ khi triển khai phương pháp điều trị sỏi niệu quản  bằng nội soi tán sỏi ngược dòng tại Bệnh viện Trung ương Huế  thì việc đặt sonde JJ niệu quản để hỗ trợ  sau mổ đã được áp dụng thường xuyên .
Nay chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác động của sonde JJ niệu quản sau tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng” Nhằm mục tiêu:
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân sỏi niệu quản được điều trị bằng nội soi niệu quản ngược dòng .
2. Đánh giá tác động của thông JJ niệu quản sau tán sỏi niệu quản nội soi ngược dòng .

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:
1. Trần Quán Anh (2001), “ Sỏi niệu quản”, Bệnh học ngoại khoa tập 2, Nxb Y học – Hà Nội, tr. 140-45.
2. Bài giảng Giải phẫu học (2004), “ Niệu quản – Bàng quang-Niệu đạo”,tập 2, Nxb Y học TP Hồ Chí Minh, tr. 201-8.
3. Giáo trình chuyên khoa II Ngoại tiết niệu (2007), “ Sỏi tiết niệu”, Bộ môn Ngoại, Trường Đại học Y dược Huế, tr. 8-13.
4. Trần Đức Hòe (2003), “Phẫu thuật ở niệu quản”, Những kỹ thuật Ngoại khoa trong tiết niệu”, Nxb KH và KT Hà Nội, tr. 283-95.
5. Trần Đức Hòe (2003), “Soi niệu quản”, Những kỹ thuật Ngoại khoa trong tiết niệu, Nxb KH và KT Hà Nội, tr. 503-23.
6.Nguyễn Thế Khánh (2001), “Xét nghiệm sử dụng trong lâm sàng” Nxb Y học Hà Nội, tr. 418-26.
7.  Nguyễn Kỳ (2003), “Phương pháp điều trị ngoại khoa hiện nay về sỏi đường tiết niệu”, Bệnh học tiết niệu – Hội tiết niệu thận học Việt Nam, Nxb Y học, tr. 255-68.
8. Nguyễn Kỳ  (2003), “Sinh lý học hệ tiết niệu”, Bệnh học tiết niệu – Hội tiết niệu Hà Nội, Nxb Y học, tr. 36-55.
9. Phạm Văn Lình, Lê Đình Khánh (2001), “ Nhận xét bước đầu kết quả tán sỏi ngoài cơ thể máy MZ.ESWL.VI”, Tạp chí khoa học, Đại Học y khoa Huế, Số 9, tr.127-32.
10. Bùi Văn Lệnh (1999), “Chẩn đoán hình ảnh bộ máy Tiết niệu”,Trường Đại học Y Hà Nội, Nxb Y học Hà Nội, tr. 105-08.
11. Nguyễn Mễ (1998), “ Sỏi niệu quản”, Bệnh học tiết niệu – Hội tiết niệu Hà Nội, xuất bản lần 2, Nxb Y học, tr. 244-8.
12. Trần Văn Sáng (1998), “Sỏi tiết niệu”, Bài giảng bệnh học niệu khoa, Tài liệu dành cho Đại học – Cao học – Nghiên cứu sinh, xb lần 2, Nxb Mũi Cà Mau, tr. 107-55.
13. Võ Tất Thắng (2006), “Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản đoạn chậu bằng nội soi”, Luận văn thạc sĩ y học,  Đại học Y khoa Huế.
14. Nguyễn Bửu Triều  (2003),“Tán sỏi niệu quản qua nội soi”, Hội tiết niệu – Thận học Việt Nam, Nxb Y học Hà Nội, tr.91-109.
15. Siêu âm chẩn đoán (1993), Hội siêu âm TP Hồ Chí Minh, tr. 66-9.
16. Lê Sĩ Toàn (1993), “Sỏi tiết niệu”, Bài giảng bệnh học ngoại khoa sau đại học, Học viện Quân y, tr. 313-31.
17. Lê Ngọc Từ (2003), “ Thăm khám bằng dụng cụ và nội soi tiết niệu” ,Bệnh học Tiết niệu, NXB Yhọc Hà Nội, tr. 123-30.
18. Dương Văn Trung (2004),“ Kết quả tán sỏi nội soi ngược dòng bằng Laser”, Tạp chí Ngoại khoa số 2/ 2007, tr. 37-41.
19. Doãn Thị Ngọc Vân (2004), “ Kết quả tán sỏi niệu quản qua nội soi BV Saint Paul Hà Nội”, Nxb Bộ Y Tế, tr. 582-4.

 

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

https://thaoduoctunhien.info/nam-dong-trung-ha-thao/    https://thaoduoctunhien.info/