Nghiên cứu hiện trạng dị tật bẩm sinh tại một số vùng bị dải chất diệt cỏ rụng lá trong chiến tranh chống Mỹ thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị
Luận án Nghiên cứu hiện trạng dị tật bẩm sinh tại một số vùng bị dải chất diệt cỏ rụng lá trong chiến tranh chống Mỹ thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị
Luận án tiến sỹ : Nguyễn Viết Nhân
Năm bảo vệ : 2000 Chuyên ngành: Di truyền học
Hướng dẫn khoa học : PGS.TS Trịnh Văn Bảo : GS.TS Đào Ngọc Phong
Trọng quá trình tham chiến tại Việt Nam, ngoài bom đạn, một cuộc chiến tranh hóa học đã được quân đội Mỹ sử dụng, trong đó chủ yếu là các chất diệt cỏ và làm rụng là (CDCRL) nhằm phá hoại nguồn cung cấp lương thực, nơi ẩn náu của quân giải phóng, mở rộng tầm quan sát trên các khu vực quân sự và khai quang các tuyến đường giao thông [61a). Các CDCRL da được rải hắt đầu từ năm 1962 và kết thúc vào năm 1971 [52, 616] (hình 1. 2, 3), với khoảng thời gian 1967 – 1968 là thời kỳ cao điểm nhất [131].
Trong thời gian này, 70.720 m² CDCRL đã được rải xuống Nam Việt Nam với tổng diện tích rải là 1670.10 hecta, chiếm 10% tổng diện tích của Nam Việt Nam (bản đồ 1), tính bình quân ở thời điểm đó là 4 lít cho mỗi đầu người [131]. Trong tổng số CDCRL đã được rải có khoảng 42.400 m² chất da cam (52, 45, 62b. 131]. Điều đáng quan tâm hơn là trong chất da cam, ngoài 2,4,5-T và 2,4-D là hai thành phần chính còn có dioxin (2.3,7,8-TCDD), một tạp chất trong quá trình sản xuất 2,4,5-T. là một chất cực độc [7, 612, 129], với tổng lượng dioxin ước tính khoảng 170 kg đã rải xuống Nam Việt Nam chủ yếu trong khoảng thời gian từ năm 1966 đến 1969 [131].
MÃ TÀI LIỆU
|
LA.2000.00514 |
Giá :
|
|
Liên Hệ
|
0915.558.890
|
Quốc Hội Mỹ đã yêu cầu Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia Mỹ (NAS) xem xét lại các bằng chứng khoa học về các hậu quả trên sức khỏe của cựu chiến binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam do phơi nhiễm với chất da cam và các CDCRL khác theo Công Luật số 102-4, ký ngày 6 tháng 2 năm 1991 [623]. Một ủy ban có tên là Ủy Ban xét lại các hậu quả sức khỏe ở các cựu chiến binh Mỹ tham chiến ở Việt Nam bị phơi nhiễm CDCRL (Committee to Review the Health Effects in Vietnam Veterans of Exposure to Herbicides) da được thành lập và hoạt động độc lập với các văn phòng khác của chính phủ [61]]. Năm 1996, ủy ban đã đưa ra thông báo (62b, 63a] cho thấy:
– Đã có đủ bằng chứng về sự kết hợp dương tính, nghĩa là có một sự kết hợp một cách ý nghĩa được thấy giữa các CDCRL và hậu quả trong các nghiên cứu, mà trong đó sự may túi, các sai chệch và nhầm lẫn đã bị loại bỏ với độ tin cậy hợp lý, giữa CDCRI và / hoặc TCDD với 4 loại bệnh: saccom mô mềm: u lymphô không phải Hodgkin, bệnh Hodgkin, mụn trứng cá do Clo (Chloracne).
– Bằng chứng còn bị hạn chế và có tỉnh gợi ý về sự kết hợp giữa phơi nhiễm CDCRL và hậu quả. Sự may rủi, các sai chệch, và nhầm lẫn chưa bị loại bỏ trong nghiên cứu, nhóm này gồm các bệnh: các ung thư của hệ hô hấp (phổi, thanh quản, khí quản), ung thư tuyến tiền liệt, u tủy rải rác (multiple myeloma), bệnh thần kình ngoại vi (peripheral neuropathy) cấp và bán cấp, tật nứt gai đốt sống (spina bifida), nhiễm porphyrin da muộn (porphyria cutanea tarda).
Chưa có đủ bằng chứng để xác định có hay không có sự kết hợp, gồm: các ung thư gan mật, ung thư mũi mũi hầu; ung thư xương, các ung thư sinh dục nữ (buồng trứng, cổ tử cung, tử cung); ung thư vú, ung thư thận; ung thư tỉnh hoàn, ung thư máu, sẩy thai ngẫu nhiên, các dị dạng bẩm sinh (không kể tật nứt đốt sống); thai chết lưu và chết sơ sinh; trọng lượng sơ sinh thấp, con bị ung thư sớm, vô sinh và tỉnh trùng có các thông số bất thường, các rối loạn nhận thức và tâm thần kinh, rối loạn chức năng phối hợp và vận động, rối loạn hệ thần kình ngoại vì mân tỉnh, rối loạn tiêu hóa và chuyển hóa; các rối loạn của hệ miễn dịch, các rối loạn của hệ tuần hoàn; các rối loạn của hệ hô hấp, ung thư da.
– Bằng chứng gợi ý về sự không có kết hợp nhưng còn hạn chế gồm: các ung thư của dạ dày ruột, ung thư bàng quang, các loại u não.
Ở Việt Nam, Ủy Ban Quốc Gia Điều Tra Hậu Quả Chiến Tranh Hóa Học của Mỹ ở Việt Nam (Ủy Ban 10- 80), được thành lập vào tháng 10 năm 1980, đã và đang tiến hành các cuộc điều tra trên toàn quốc với sự tham gia của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước về nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến CDCRL và đioxin, hai cuộc hội thảo quốc tế về vấn đề này đã được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh (1983) và Hà Nội (1993). Mặc dù chưa có đẩy đủ bằng chứng [611, 620, 118, 132) nhưng nhiều nghi vấn về mối liên quan giữa việc phơi nhiễm CDCRI, và dioxin với sự xuất hiện các loại bệnh tật đã được nêu trong các nghiên cứu, trong đó một lượng khá lớn thông tin đặt nghi vấn về mối liên quan giữa chúng với các dị tật bẩm sinh (DTBS) & con cái của các bố mẹ là cựu chiến binh đã chiến đấu tại chiến trường Miền Nam hoặc sống trong vùng bị rãi.
Tuy nhiên ở nước ta chưa có đề tài nào đánh giá đầy đủ về mối liên quan giữa phơi nhiễm CDCRI, với từng loại DTBS đặc hiệu cũng như đánh giá hiện trạng điều trị, phục hồi chức năng cho các trường hợp bị khuyết tật đặc biệt là ở trẻ em, do đó đề tài này đã được chúng tôi thực hiện với 3 mục tiêu chính sau đây:
1. Phân loại và xác định tỉ lệ một số loại DTBS trên một số vùng cư dân bị rải và không bị rài CDCRL trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ (1962-1971) ở tỉnh Thía Thiên – Huế và Quảng Trị (thuộc Tỉnh Bình Trị Thiên cũ).
2. Tìm hiểu mối liên quan giữa phơi nhiễm CDCRL và tỉ lệ một số loại DTBS qua so sánh giữa hiện trạng DTBS ở 2 vùng bị và không bị rải CDCRL trong chiến tranh.
3. Đánh giá hiện trạng điều trị, phục hồi chức năng của các cháu khuyết tật tại các vùng điều tra và bước đầu thăm dò các biện pháp nhằm giải quyết và hỗ trợ cho các trẻ bị khuyết tật và gia đình.
Hy vọng những kết quả mà chúng tôi đạt được sẽ góp phần vào việc xác định nạn nhân bị hậu quả của CDCRL mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, đặt cơ sở cho việc đề ra các chủ trương và giải pháp cơ bản nhằm khắc phục các hậu quả như tỉnh thần quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ đưa ra ngày 3 tháng 4 năm 1998

Recent Comments