Nghiên cứu biến chứng sa lệch thể thủy tinh nhân tạo hậu phòng và các biện pháp xử lý
Luận án Nghiên cứu biến chứng sa lệch thể thủy tinh nhân tạo hậu phòng và các biện pháp xử lý
Nghiên cứu sinh : Vũ Thị Thái
Chuyên ngành: Nhãn Khoa năm bảo vệ : 2000
Hướng dẫn khoa học : TS.Trần Thị Nguyệt Thanh; GS.TS Nguyễn Trọng Nhân
Cho đến nay, dục TTT vẫn đang là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở nước ta cũng như ở nhiều nước trên thế giới. Tỷ lệ người mù do đục TTT ở Việt nam là 0,84% (Hà huy Tài, 1995) [8]. Vi vậy, vấn đề điều trị TTT dục vẫn luôn luôn là mối quan tâm lớn của ngành Nhãn khoa ở các nước cũng như ở nước ta.
MÃ TÀI LIỆU
|
LA.2000.00520 |
Giá :
|
|
Liên Hệ
|
0915.558.890
|
Sau khi TTT dục đã được mổ lấy đi người ta áp dụng nhiều phương pháp điều chỉnh quang học khác nhau như mang kính gọng, kính tiếp xúc, phẫu thuật đắp giác mạc, đặt TTTNT… Từ nhiều năm nay, đặt TTTNT đã trở thành phương pháp chủ yếu để năng cao thị lực cho bệnh nhân sau phẫu thuật đục TTT. Phương pháp này có ưu điểm hơn hẳn phương pháp mổ cũ rồi mang kính gọng. Đó là sau mổ bệnh nhân không phải đeo kính đấy, nặng và TTTNT lại được đặt sát với vị trí quang học tự nhiên nên hầu như không có hiện tượng bất đồng kích thước hình ảnh võng mạc (Aniseiconie), không có hiện tượng cầu sai, không bị hạn chế và rối loạn thị trường [124]… Tuy nhiên, một trong những biến chứng lớn làm cho các nhà nhân khoa phải lo ngại đó là sự sa lệch của TTTNT. Tỷ lệ sa lệch của TTTNT là 13% ở những năm 1950 (Ridley), 25% ở những năm 1960 (Nordlohne) [124] và năm 1993, Apple đã đưa ra tỷ lệ lệch TTTNT là 30% [112]. Sau nhiều công trình nghiên cứu, các nhà nhân khoa cho rằng, những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến biến chứng sa lệch TTTNT là chất liệu, hình dáng, kích thước của TTTNT và phương pháp cố định TTTNT ở trong mắt. Vì vậy, các tác giả đã không ngừng cải tiến về kỹ thuật phẫu thuật cố định TTTNT và tạo ra các mẫu TTTNT có chất lượng ngày càng cao. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kỹ thuật xé bao trước TTT theo kiểu đường vòng liên tục (Continuous curvilinear capsulorhexis), phương pháp làm nhuyễn TTT dục bằng siêu âm và đặt TTTNT mềm vào trong túi TTT đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong lĩnh vực điều trị TTT đục. Nhưng ngay cả với phương pháp phẫu thuật tiên tiến này, biến chứng lệch TTTNT do sự xơ hoá, co kéo không cân đối của túi TTT vẫn là một vấn đề làm cho các phẫu thuật viên phải quan tâm 137,42,45,51,801.
Như vậy, cho đến nay trên thế giới, trải qua hàng mấy chục năm trên thực tế lâm sàng, rất nhiều mẫu TTTNT tiên tiến đã ra đời, với nhiều cải tiến về hình dáng, kích thước, chất liệu … và với những tiến bộ to lớn trong kỹ thuật phẫu thuật, sa lệch TTTNT vẫn là một trong các biến chứng lớn. Đây vẫn là nguyên nhân hàng đầu buộc các phẩu thuật viên phải can thiệp lấy TTTNT ra hoặc phải đặt thay thế bằng một TTTNT khác [31,62,88,95].
Ở Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Trọng Nhân và các cộng tác viên tại Viện Mắt Trung ương đã tiến hành những trường hợp đặt TTTNT đầu tiên từ năm 1978 [5,6]. Từ đó, phương pháp phẫu thuật này đã được áp dụng ở một số trung tâm nhãn khoa lớn trong nước, nhưng số lượng không nhiều. Cho đến năm 1992, phương pháp phẫu thuật đật TTTNT mới thực sự được phát triển rộng rãi và dần dần được áp dụng trong phạm vi cả nước, Riêng trong năm 1997, Việt nam đã có tới hơn 17.000 ca phẫu thuật đặt TTTNT. Dù sao, đây cũng là một phương pháp phẫu thuật còn tương đối mới ở Việt Nam, đặc biệt đối với các cơ sở Nhân khoa ở địa phương. Trong các báo cáo, một số tác giả trong nước có đề cập đến biến chứng sa lệch TTTNT với các tỷ lệ rất khác nhau (từ 0,54% đến 32%) [1,2,10,12,13). Trên thực tế lâm sàng tại Viện Mắt trung ương, chúng tôi nhận thấy sa lệch TTTNT là một biến chứng rất thường gặp. Theo thông kê bước đầu của chúng tôi (1995), tỷ lệ sa lệch TTTNT là 55,22% Đây là một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế chức năng thị giác sau mổ và nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, sa lệch TTTNT còn có thể gây nên những biến chứng nặng cho nhãn cầu.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành " Nghiên cứu biến chứng sa lệch thể thuỷ tỉnh nhân tạo hậu phòng và các biện pháp xử lý ", nhằm mục đích:
1 – Nghiên cứu các đặc điểm lâm sàng của biến chứng sa lệch TTINT bao gồm tỷ lệ lệch TTTNT, hình thái lệch, mức độ lệch, tiến triển của lệch TTTNT theo thời gian và các nguyên nhân gây sa lệch TTTNT.
2 – Nghiên cứu các biện pháp xử lý biến chứng sa lệch TTINT.
Hy vọng rằng những kết quả nghiên cứu được sẽ từng bước hạn chế tỷ lệ sa lệch TTTNT, góp phần mang lại chức năng thị giác sau mổ cao hơn cho người bệnh và khắc phục được những hậu quả do biến chứng này gây ra.

Recent Comments