Nghiên cứu động học một số chỉ số miễn dịch-sinh học giúp tiên lượng dự đoán tái phát ung thư vòm họng thử điều trị viên M sau xạ trị
Luận án Nghiên cứu động học một số chỉ số miễn dịch -sinh học giúp tiên lượng dự đoán tái phát ung thư vòm họng thử điều trị viên M sau xạ trị
Luận án tiến sỹ y học : Trần Ngọc Dung
Chuyên ngành : Miễn Dịch – Sinh lý bệnh
Hướng dẫn khoa học : GS.TSKH Phan Thị PHi Phi ; PGS. PHạm Thụy Liên
Ung thư vòm họng (UTVH) là một bệnh ung thư của vùng đầu mặt cổ có đặc trưng riêng bởi tính chất dịch tễ học và đặc tính sinh học của chúng.
Về mặt dịch tễ học, bệnh thường kết hợp với tình trạng nhiễm trùng Epstein-Barr virus (EBV) và nhiều tác giả đã chứng minh sự có mặt genom EBV trong tế bào ung thư biểu mô vòm họng [143]. Ngoài ra, bệnh còn mang đặc điểm vùng địa lý, người ta tìm thấy ung thư vòm họng có nhiều ở vùng Đông Nam Châu Á, nước có tỉ lệ mắc bệnh nhiều nhất là Trung Quốc với tần suất 30-80 người/100.000 dân/năm; kế đó là vùng Bắc Phi. Philippin, vùng biển Caribée: 8-12 người/100.000/năm; Châu Âu và Châu Mỹ là nước có tỉ lệ mắc bệnh thấp nhất: 1 người/100.000/năm [74]. Việt Nam là nước nằm trong nhóm có tỉ lệ mắc ung thư vòm trung bình, theo thống kê mới nhất của bệnh viện K Hà Nội trong 5 năm 1991-1996, tỉ lệ mắc chuẩn của UTVH từ 7-9 người /100.000/năm [42] và trong cả nước, UTVH là loại ung thư phổ biến ở miền Bắc Việt Nam [19].
MÃ TÀI LIỆU
|
LA.2000.00519 |
Giá :
|
|
Liên Hệ
|
0915.558.890
|
Về đặc tính sinh học, UTVH thường gặp ở nam giới, tuổi trưởng thành và tuổi trung niên (40-60 tuổi) [12], [37], [71]; týp mô bệnh học chiếm tỉ lệ cao nhất (đặc biệt ở Việt Nam) là týp ung thư tế bào biểu mô không biệt hóa (undifferentiated carcinoma nasopharyngeal type UCNT) [16], [17], rất cảm thụ với xạ và hóa chất. Song, tỉ lệ tái phát tại chỗ và di căn xa cao là 2 thất bại chủ yếu trong điều trị ung thư vòm họng. Tình trạng này thường xuất hiện trong 2 đến 3 năm đầu sau xạ trị: cao nhất ở năm thứ nhất và rất ít gặp sau 3-5 năm [12], [37].
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm tìm hiểu nguyên nhân thất bại và các yếu tố liên quan đến khả năng sống còn của bệnh nhân. Kết quả cho thấy có rất nhiều yếu tố liên quan: Giai đoạn của bệnh, phác đồ điều trị (đơn thuần hay kết hợp), liễu xạ, phương pháp chiếu xạ, týp mô bệnh học, hiệu giá kháng thể kháng EBV, tình trạng đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân… Về mặt lâm sàng, các tác giả hầu hết đều khẳng định rằng giai đoạn bệnh, xếp loại theo TNM hay theo tiến triển lâm sàng (giai đoạn bệnh) liên quan có ý nghĩa đến tiên lượng bệnh [37], [56], [59], [74], [76], [126]. Liều xạ, cách thức chiếu xạ, liều hóa chất, phác đồ kết hợp với xạ trị… cũng có cải thiện tỉ lệ sống thêm song vẫn chưa cải thiện được tình trạng tái phát và di căn xa [61], [79], [167], [176]. Trong khi đó về mặt sinh học, ý kiến về các yếu tố liên quan đến tiên lượng UTVH vẫn còn chưa được thống nhất. Chúng ta có thể kể đến là: Tuổi, giới, týp mô bệnh học, yếu tố huyết thanh học liên quan đến nhiễm trùng EBV, tình trạng đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân và các dấu hiệu cận ung thư (paraneoplastic) như phản ứng giả bạch cầu, sốt không rõ nguyên nhân… trong đó tuổi, giới và huyết thanh học kháng EBV là những yếu tố được các tác giả trong cũng như ngoài nước nghiên cứu nhiều nhất. Sự suy giảm đáp ứng miễn dịch tế bào trong UTVH cũng đã được nhiều tác giả khẳng định, nhưng việc theo dõi sự biến động của chúng để tiên lượng khả năng sống còn của bệnh nhân thì rất ít tác giả nghiên cứu, và ở Việt Nam, gần như chưa có tác giả nào nghiên cứu, ngoại trừ Nguyễn Thị Bích Hà và cs 1995 nghiên cứu về mối liên quan giữa biến động của tế bào NK và hiệu giá IgA/EA, IgA/VCA với tình hình tái phát của bệnh nhân [12].
Cho đến thời điểm này, xạ trị vẫn là phương pháp chủ yếu điều trị bệnh UTVH. Mặc dù bệnh đáp ứng rất tốt với xạ trị song vẫn có tỉ lệ tái phát tại chỗ và di căn xa cao. Hóa trị liệu bổ sung đã được áp dụng nhằm giảm bớt tỉ lệ này, song biện pháp dường như chưa đạt hiệu quả. Vấn đề đặt ra ở đây là có thể thời điểm chọn để bổ sung hóa chất còn chưa hợp lý nên kết quả điều trị chưa cao? Vậy có nên chọn thời điểm cho việc điều trị bổ sung hay không và nếu chọn thì thời điểm nào là thích hợp nhất ? vấn đề này vẫn chưa được nghiên cứu.
Đa số các bệnh nhân ung thư, trong đó có ung thư vòm họng, có suy giảm miễn dịch tế bào, nguyên phát hay thứ phát, trong lúc đáp ứng miễn dịch dịch thể (đặc hiệu và không đặc hiệu) vẫn được duy trì. Mặt khác, tác dụng phụ của các biện pháp điều trị ung thư thường làm giảm bạch cầu hạt, giảm các tế bào có khả năng đáp ứng miễn dịch đặc hiệu, tạo nguy cơ cho nhiễm khuẩn và nhiều biến chứng khác. Việc tăng cường các cơ chế miễn dịch có hiệu lực, nhằm phục hồi hệ thống miễn dịch của cơ thể sau hóa, xạ trị liệu, giảm khả năng tái phát và di căn xa, đang được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu.
Ở Việt Nam, với nguồn dược liệu cây có phong phú, đặc biệt là một số cây thuốc có các hoạt chất kích thích miễn dịch khá tốt như cây nhàu (tên khoa học: Morinda Citrifolia L. Rubiacceae). Các công trình của Phan Thị Phi Phi và cs từ 1988-1995 đã chứng minh tác dụng phục hồi miễn dịch, cụ thể là tác dụng làm tăng bạch cầu tủy và bạch cầu lympho của dịch chiết rẻ nhàu toàn phần trên chuột nhất bị suy giảm miễn dịch do dùng cyclophosphamid (1988-1993) hay do chiếu tia gama toàn thân (1993). Có hy vọng rằng dịch chiết rễ nhàu toàn phần kết hợp sau hóa, xạ trị liệu sẽ nâng cao hiệu quả điều trị ung thư nói chung và ung thư vòm họng nói riêng, làm giảm tái phát và di căn xa? Vấn đề này chưa được chứng minh trên lâm sàng.
Xuất phát từ cơ sở trên, mục đích của đề tài đặt ra nhằm nghiên cứu các thông số miễn dịch – sinh học giúp tiên lượng, dự đoán tái phát bệnh ung thư vòm họng và tìm biện pháp để làm giảm khả năng tái phát. Để đạt được mục đích trên, 2 nhiệm vụ nghiên cứu được chúng tôi đặt ra là:
1. Nghiên cứu động học mối liên quan giữa một số chỉ số miễn dịch sinh học với biểu hiện lâm sàng giúp tiên lượng, dự đoán tái phát bệnh.
2. Kết hợp viên M sau xạ trị, nhằm năng cao hiệu quả của biện pháp điều trị chính thống.

Recent Comments