Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh lỵ trực khuẩn dựa trên kỹ thuật PCR

Luận án Nghiên cứu một số đặc điểm của bệnh lỵ trực khuẩn dựa trên kỹ thuật PCR

Luận án tiến sỹ y học : Nguyễn Thị Thông 

Chuyên ngành : Vi sinh vật  : Năm bảo vệ :  2001

Hướng dẫn khoa học : PGS.TS Lê Huy Chính ; PGS.TS Phùng Đắc Cam

Lỵ trực khuẩn là bệnh truyền nhiễm cấp tính ở đường tiêu hoá, tổn thương do vi khuẩn gây ra thường khu trú ở niêm mạc đại tràng, với biểu hiện ở thể diễn hình là tiêu chảy phân có nhày máu và bạch cầu. Hiện nay, bệnh lỵ trực khuẩn vẫn xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới, nhưng phổ biến hơn là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [20.51,74,128,161]. Hàng năm, số người bị bệnh lỵ trực khuẩn trên toàn cầu ước tính có khoảng 200 triệu người. Trong đó, số bệnh nhân cần được điều trị trong bệnh viện là khoảng 5 triệu người với số lượng tử vong khoảng 650 nghìn người [103.161]. Số trường hợp bị bệnh lỵ trực khuẩn chiếm từ 5% đến 15% tổng số các trường hợp bị bệnh tiêu chảy [161]. Trong khi đó, số trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy hàng năm ở những nước đang phát triển ước tính có tới khoảng 1000 triệu trường hợp [53]. Như vậy, bệnh lỵ trực khuẩn hiện vẫn đang là một vấn đề Y tế quan trọng, cần được quan tâm nghiên cứu. 
 

MÃ TÀI LIỆU

LA.2001.00542

Giá :

 

Liên Hệ

0927.007.596

 

Bệnh lỵ trực khuân chủ yếu là do vi khuẩn Shigella gây ra. Ngoài ra, một số chủng vi khuẩn Escherichia coli có khả năng xâm nhập (EIEC) cũng gây ra bệnh lỵ trực khuẩn mà trước đây được coi là Para Shigella hay “phó lỵ” [8]. 
Tất cả các vi khuẩn Shigella và EIEC đều thuộc tộc Escherichiae của họ vi khuẩn đường ruột (Enterobacteriaceae) [106]. Chúng là những vi khuẩn có mối quan hệ rất gần gũi với nhau về mặt xếp loại cũng như về mặt di truyên. Đồng thời, chúng đều có khả năng gây bệnh lỵ trực khuẩn với cơ chế, cách phòng và điều trị bệnh hoàn toàn giống nhau [68]. 
Tỷ lệ tử vong của bệnh lỵ trực khuẩn ngày nay đã được hạ thấp [15.161]. Tuy nhiên, sự gia tăng về tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của Shigella [7.80.161] đang làm cho việc điều trị bệnh lỵ trực khuẩn ngày càng trở nên khó khăn và tốn kém hơn. Mặt khác, ở mỗi vùng, mỗi nơi trên thế giới, các nhóm và týp huyết. thanh Shigella gây bệnh nổi bật lại là khác nhau và có thể thay đổi theo thời gian [28.74]. Điều này làm cho việc phòng bệnh bằng vắc xin gặp nhiều khó khăn, vì hiện nay chúng ta chưa sản xuất được loại vắc xin có thể phòng được tất cả các vi khuẩn Shigella. Do đó, công tác phòng bệnh không đặc hiệu hiện nay vẫn đóng vai trò quan trọng nhất. Vì vậy, việc nghiên cứu và theo dõi bệnh lỵ trực khuẩn và các trực khuẩn lỵ là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong phòng và điều trị bệnh. 
Để chẩn đoán lỵ trực khuẩn, từ trước đến nay hầu như chúng ta đều chỉ dùng kỹ thuật nuôi cấy phân lập (NCPL) mà trong đó hầu hết là chỉ chẩn đoán vì khuẩn Shigella [27]. Việc NCPL vi khuẩn EIEC cho tới nay vẫn chưa được thường qui hoá trong các phòng xét nghiệm vì sinh, bởi lẽ các nhóm huyết thanh gây bệnh của EIEC chưa được xác định đầy đủ và kháng huyết thanh mảu dùng cho chẩn đoán chúng không có sẵn trên thị trường [48.70]. Hơn nữa, các kỹ thuật khác để chẩn đoán xác định EIEC thường khó thực hiện, tốn kém và mất nhiều thời gian [126]. Điều đó làm cho các tác nhân gây lỵ trực khuẩn là EIEC hầu hết bị bỏ qua. Mặt khác, kỹ thuật NCPL có độ nhạy thấp vì Shigella dễ bị chết khi ra ngoại cảnh (3), hoặc chúng có thể bị ức chế không mọc được trên môi trường nuôi cấy khi bệnh nhân đã uống kháng sinh. Hơn nữa, các nghiên cứu về bệnh lỵ trực khuẩn trên thế giới cũng như ở nước ta phần lớn đều tập trung vào đối tượng là bệnh nhân năm điều trị tại các bệnh viện. Các nghiên cứu trên bệnh nhân ở tuyến Y tế cơ sở hầu như chưa được chú ý tới nhiều. Các yếu tố trên dẫn đến việc nhận định về vai trò của lỵ trực khuẩn trong bệnh tiêu chảy cũng như một số đặc điểm của bệnh lỵ trực khuẩn có thể là chưa được phù hợp với thực tế. 
Ngay nay, có rất nhiều kỹ thuật chẩn đoán mới có độ chính xác cao và tiêu tốn ít thời gian đã được áp dụng vào chẩn đoán vi sinh vật. Trong chân đoán lỵ trực khuẩn, các kỹ thuật sinh học phân tử như: phản ứng chuỗi polymerase (Polymerase chain reaction, viết tắt là PCR), kỹ thuật lai tạo gen bằng ADN dò (DNA probe) và các kỹ thuật miễn dịch mà chủ yếu là ELISA cũng đã được ứng dụng [1,56,65,122,140). Trong các kỹ thuật sinh học phân tử, kỹ thuật PCR thường có độ chính xác cao hơn so với lai tạo gen [65]. Hiện nay, kỹ thuật PCR khuếch đại gen [paH đang được áp dụng ở một số nước [105,141,142]. 
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và thuộc vùng nhiệt đới. Việc theo dõi, nghiên cứu về bệnh lỵ trực khuẩn và trực khuẩn lỵ, nhất là ở tuyến Y tế cơ sở với việc sử dụng kỹ thuật chẩn đoán mới có độ chính xác cao là rất cần thiết, nhằm góp phần phục vụ tốt hơn cho công tác phòng và điều trị bệnh. Xuất phát từ những nhận thức trên, chúng tôi làm đề tài này tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, Hà Nội từ 10/1995-11/1996 nhằm các mục đích sau: 
1. Áp dụng phương pháp PCR vào chẩn đoán lỵ trực khuẩn. 
2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và tính chất phân của bệnh lỵ trực khuẩn. 
3. Nghiên cứu một số đặc điểm của các chủng Shigella phân lập được.

You may also like...

https://thaoduoctunhien.info/nam-dong-trung-ha-thao/    https://thaoduoctunhien.info/