KHẢO SÁT ÂM ỐC TAI Ở TRẺ NGHE KÉM BẨM SINH TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2020-2021

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC KHẢO SÁT ÂM ỐC TAI Ở TRẺ NGHE KÉM BẨM SINH TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2020-2021. Đặt vấn đề: Nghe là một giác quan rất quan trọng ở trẻ em. Nghe kém bẩm sinh là những trẻ sinh ra đã bị nghe kém. Âm ốc tai cho thấy có nhiều ưu điểm trong việc chẩn đoán và đánh giá nghe kém ở trẻ.

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và kết quả đo âm ốc tai ở trẻ nghe kém bẩm sinh.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả hàng loạt ca với 102 trẻ nghe kém bẩm sinh đủ điều kiện tham gia nghiên cứu tại bệnh viện Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2020 đến năm 2021.

Kết quả: Lý do khám và phát hiện nghe kém thường gặp nhất là chậm nói (55,9%). Tuổi được chẩn đoán lần đầu trung bình 31,7 tháng. Âm ốc tai chưa đạt ở cả 2 tai là 100 trẻ, đạt ở cả 2 tai là 2 trẻ. Âm ồn càng cao khi tần số f2 càng thấp và thường có giá trị thấp các trẻ lớn tuổi hơn.

Kết luận: Độ tuổi phát hiện nghe kém bẩm sinh ở nước ta còn cao, đa phần nghe kém bẩm sinh do tổn thương tại ốc tai.

MÃ TÀI LIỆU

CAOHOC.2024.00196

TCYDH.2022.01632

Giá :

 

Liên Hệ

0927.007.596

 Nghe là một giác quan vô cùng quan trọng của con người, đặc biệt đối với trẻ em trong 5 năm đầu đời nếu chức năng nghe bị suy giảm sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển ngôn ngữ [48]. Tuy nhiên, một số trẻ không may mắn bị nghe kém bẩm sinh, đó là những trẻ bị khiếm khuyết về chức năng thính giác ngay từ khi được sinh ra. Không nghe được sẽ không nói được, không diễn đạt được ý nghĩ của trẻ, làm trẻ bị tách biệt khỏi xã hội [10].
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới đến tháng 01 năm 2020, khoảng 5% dân số thế giới (tương đương 466 triệu người) có khiếm khuyết chức năng thính giác, trong số đó có khoảng 34 triệu trẻ em [68]. Tại Mỹ, nghe kém là một bệnh khá thường gặp chiếm tỷ lệ khoảng 1/3000 trẻ sinh ra, tỷ lệ nghe kém trẻ em phát hiện qua sàng lọc ở Mỹ là 0,1% trong số đó 1/3 là điếc sâu [61]. Tại Việt Nam chưa có các thống kê chính thức về tỷ lệ nghe kém bẩm sinh ở trẻ em.
Nghe kém bẩm sinh là những trẻ sinh ra đã bị nghe kém, nguyên nhân có thể do gen hoặc các yếu tố mắc phải trong quá trình mẹ mang thai như nhiễm Rubella, CMV, hay sử dụng các loại thuốc gây ngộ độc thính giác,… Trẻ nghe kém bẩm sinh sẽ không nghe được âm thanh ngay từ lúc chào đời, do vậy việc phát hiện sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc can thiệp phục hồi chức năng thính giác và ngôn ngữ cho trẻ. Để phát hiện sớm được những trẻ này, cần nghiên cứu các yếu tố liên quan đến nghe kém bẩm sinh, đặc điểm lâm sàng và phát triển các phương pháp đánh giá chức năng nghe phù hợp.
Với sự tiến bộ của y học, có nhiều phương pháp để đánh giá chức năng thính giác của trẻ nghe kém cũng như định vị vị trí tổn thương cơ quan thính giác, từ đó giúp ích cho việc lên kế hoạch điều trị. Vào năm 1978, David Kemp là người đầu tiên đưa ra khái niệm âm ốc tai [31]. Âm ốc tai phản ánh sự hoạt động của tế bào lông ngoài, là những tế bào nhạy cảm nhất của cơ quan Corti. Kể từ khi ra đời, việc đo âm ốc tai cho thấy có nhiều ưu điểm trong việc chẩn đoán và đánh giá sức nghe ở trẻ em. Đặc biệt ở trẻ nghe kém bẩm sinh, âm ốc tai còn giúp nhận định sơ bộ nghe kém là do các nguyên nhân trước ốc tai hay sau ốc tai, giúp ích cho việc lựa chọn phương pháp phục hồi chức năng thính giác phù hợp cho trẻ. Ngoài ra, thiết bị đo âm ốc tai thường gọn nhẹ, dễ sử dụng, có thể trang bị ở nhiều cơ sở y tế. Tuy nhiên để việc sử dụng kết quả đo âm ốc tai được chuẩn xác, nhất là ở các trường hợp trẻ nghe kém bẩm sinh thì rất cần các nghiên cứu về đặc điểm âm ốc tai, đặc điểm lâm sàng cũng như các yếu tố liên quan ở những trẻ này. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài này với các mục tiêu:
Mục tiêu tổng quát: Khảo sát âm ốc tai ở bệnh nhân nghe kém bẩm sinh tại bệnh viện tai mũi họng thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2020 đến năm 2021.
Mục tiêu cụ thể:
– Mô tả đặc điểm lâm sàng và một số yếu tố liên quan gây nghe kém bẩm sinh ở trẻ em tại bệnh viện Tai mũi họng Thành phố Hồ Chí Minh.
– Phân tích kết quả đo âm ốc tai ở trẻ em nghe kém bẩm sinh tại bệnh Tai mũi họng Thành phố Hồ Chí Minh

 DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Phân bố theo nhóm tuổi 40
Bảng 3.2. Tiền sử nghe kém bẩm sinh trong gia đình 41
Bảng 3.3. Phân bố lý do phát hiện nghe kém 42
Bảng 3.4. Thời điểm được chẩn đoán nghe kém lần đầu 42
Bảng 3.5. Đặc điểm tai ngoài 43
Bảng 3.6. Dị tật và bệnh lý kèm theo 43
Bảng 3.7. Các yếu tố liên quan ở mẹ trước và trong lúc mang thai 44
Bảng 3.8. Tiền sử bệnh tật mắc phải lúc mang thai 45
Bảng 3.9. Trung bình thời điểm mẹ mắc bệnh lúc mang thai 45
Bảng 3.10. Ngưỡng nghe ở từng tần số và trung bình đơn âm (dB) 46
Bảng 3.11. Bảng phân độ nghe kém dựa vào đo thính lực đơn âm 47
Bảng 3.12. Kết quả đo điện thính giác thân não 47
Bảng 3.13. Phân bố mức độ nghe kém 48
Bảng 3.14. Kết quả đo âm ốc tai 48
Bảng 3.15. Phân bố theo từng tần số không đạt 49
Bảng 3.16. Trung bình âm ồn theo từng tần số 50
Bảng 3.17. Trung bình âm ồn theo nhóm tuổi tai trái 50
Bảng 3.18. Trung bình âm ồn theo nhóm tuổi tai phải 51
Bảng 3.19. Trung bình SNR theo từng tần số 52
Bảng 3.20. Trung bình SNR theo nhóm tuổi tai trái 53
Bảng 3.21. Trung bình SNR theo nhóm tuổi tai phải 53
Bảng 3.22. Liên quan giữa mẹ hút hoặc tiếp xúc khói thuốc lá với SNR 54
Bảng 3.23. Liên quan giữa bệnh tật mắc phải lúc mang thai và SNR 55
Bảng 3.24. Liên quan giữa dị tật kèm theo và SNR 5

You may also like...

https://thaoduoctunhien.info/nam-dong-trung-ha-thao/    https://thaoduoctunhien.info/