Một số đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học bệnh sốt mò do Orientia Tsutsugamushi ở miền trung Việt Nam, giai đoạn 2009 – 2010
Một số đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học bệnh sốt mò do Orientia Tsutsugamushi ở miền trung Việt Nam, giai đoạn 2009 – 2010
Tác giả: Bùi Trọng Chiến, Philip Buchy, Trịnh Thị Xuân Mai, Lê Viết Lô, Ngô Thị Quyết, Ngô Lê Minh Tâm, Viên Quang Mai, Nguyễn Bảo Triệu
Tóm tắt:
Bằng kỹ thuật xét nghiệm real-time PCR xác định ADN của Orentia tsutsugamushi, chúng tôi đã phát hiện trong tổng số 296 mẫu bệnh phẩm (thu thập tại 3 tỉnh: Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Quảng Nam) có 83 mẫu (28,04 %) dương tính với sốt mò. Trong đó, Khánh Hòa chiếm tỷ lệ dương tính cao nhất (47,90 %), còn Quảng Ngãi và Quảng Nam chiếm tỷ lệ thấp hơn (tương ứng 22,97 % và 8,74 %). Mẫu bệnh phẩm dịch tiết vết loét chiếm tỷ lệ dương tính cao nhất (53,28%), tiếp theo là tế bào bạch cầu và cục máu đông (tương ứng là 19,89 % và 4,26 %). Cũng bằng kỹ thuật trên, chúng tôi phát hiện mẫu lách chuột (thuộc loài Bandicota indica) thu thập tại tỉnh Quảng Ngãi dương tính với O. tsutsugamushi chiếm tỷ lệ 1,3 %. Qua phân tích 83 ca dương tính cho thấy rõ một số đặc điểm lâm sàng và dịch tễ học như sau: Các triệu chứng lâm sàng chính là sốt (90,4%), đau đầu (90,4%), đau toàn thân (89,16%), vết loét (83,13%), sưng hạch (49,4%). Các đặc điểm dịch tễ học như sau: Có tỷ lệ khác biệt rõ ràng về giới tính, nữ giới mắc sốt mò cao gấp 2 lần nam giới (68,7% và 31,3%). Bệnh nhân ở nhóm 25 – 44 tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (42,7%); tiếp đến là các nhóm 45 – 59 tuổi (25,3%) và nhóm 15 – 24 tuổi (14,5%). Ca bệnh xảy ra quanh năm nhưng thời gian có ca bệnh nhiều nhất trong năm từ tháng 4 đến tháng 9 ( chiếm 65,1% ). Nông dân chiếm tỷ lệ mắc cao nhất (38,6%); tuy có sự khác biệt về vùng thành thị (44,6%) và nông thôn (55,4%) nhưng không có ý nghĩa thống kê.
MÃ TÀI LIỆU
|
Y HỌC DỰ PHÒNG |
Giá :
|
10.000đ
|
Liên Hệ
|
0915.558.890
|

Recent Comments