NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN SAU MỔ NỘI SOI CẮT TÚI MẬT DO SỎI

Luận án NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH NHÂN SAU MỔ NỘI SOI CẮT TÚI MẬT DO SỎI.Túi mật là một tạng có vai trò lưu trữ và làm mật cô đặc trước khi chảy vào tá tràng. Sỏi túi mật rất phổ biến ở phương Tây. Ở Mỹ, khoảng 20 triệu người mắc bệnh sỏi túi mật (chiếm 10 % dân số) và có khoảng 1 triệu trường hợp mới được phát hiện mỗi năm. Ở châu Phi tỉ lệ mắc sỏi túi mật là dưới 5 % và châu Á là 5 – 10% [7], [132]. Ngày nay, có nhiều cải tiến trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh ít hoặc không xâm hại, siêu âm được sử dụng rộng rãi nên tỉ lệ sỏi túi mật đơn thuần được phát hiện tại châu Á chiếm tỉ lệ ngày càng tăng [39].

MÃ TÀI LIỆU

BQT.YHOC. 00041

Giá :

50.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Sỏi túi mật có thể có hoặc không có triệu chứng. Nhiều bệnh nhân sỏi túi mật được phát hiện tình cờ qua khám sức khỏe định kỳ hay khám các bệnh khác mà trước đó không có triệu chứng gì của sỏi túi mật. Trong một nghiên cứu tại Thụy Điển, 150 bệnh nhân có sỏi túi mật có triệu chứng nhưng từ chối mổ c ắt túi mật, theo dõi trong 2 năm thấy có đến 27 % trong số này có biến chứng nặng về đường mật cần phải mổ cấp cứu [114].
Triệu chứng của sỏi túi mật đa số là đau âm ỉ vùng thượng vị và dưới sườn phải. Diễn tiến lâm sàng của bệnh sỏi túi mật thường qua 3 giai đoạn: không triệu chứng, có triệu chứng và biến chứng. Các biến chứng của sỏi túi mật bao gồm: hoại tử túi mật, thấm mật phúc mạc, viêm phúc mạc mật, viêm tụy cấp, rò túi mật – tá tràng… Các biểu hiện của sỏi túi mật thay đổi từ không triệu chứng đến có triệu chứng đau bụng dữ dội và các biến chứng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Chỉ định phẫu thuật của bệnh sỏi túi mật khi có: viêm túi mật cấp, viêm túi mật mạn, hay các biến chứng. Tuy nhiên, chỉ định phẫu thuật c ắt túi mật vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau [114] và chưa có phương pháp nào có thể dự đoán nguy cơ xảy ra các biến chứng ở các bệnh nhân sỏi túi mật không mổ.
Việc điều trị sỏi túi mật có biến chứng chiếm một phần lớn chi phí y tế [30], [93]. Hầu hết sỏi túi mật không có triệu chứng [22], [66] và không xác định được thời điểm xảy ra biến chứng. Tuy nhiên, có một sự thống nhất là những bệnh nhân sỏi túi mật có triệu chứng thì cần được xem xét để phẫu thuật c ắt bỏ túi mật. Đối với những trường hợp này, thời gian tiến hành phẫu thuật cần được cân nhắc và phụ thuộc vào nguy cơ, chi phí và các triệu chứng. Các triệu chứng có thể không thay đổi, hoặc xấu đi hay xuất hiện thêm các triệu chứng mới sau phẫu thuật c ắt túi mật là một vấn đề lớn.
Sau khi c ắt bỏ túi mật, bệnh nhân có thể có thay đổi về chất lượng cuộc sống. Sự thay đổi này có thể rất khác nhau giữa trước và sau mổ. Do đó việc đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân trước và sau mổ c ắt túi mật nội soi do sỏi là rất quan trọng. Tại Anh, Đức và Thụy Điển (năm 2007 – 2008), Halldestam và Sandblom [52], [60], [114], đã áp dụng 2 bảng câu hỏi SF-36, GIQLI để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi c ắt túi mật do sỏi. Tại Canada (năm 1994), Eypasch và cộng sự [52] đã sử dụng bộ câu hỏi GIQLI để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau mổ về đường tiêu hóa. Tại New Zealand (năm 2006), Chen và cộng sự [38] đã áp dụng hai bộ câu hỏi trên để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi c ắt túi mật do sỏi.
Nghiên cứu nhằm đánh giá những thay đổi tâm lý, sinh lý, bệnh lý trong cơ thể người bệnh khi không còn túi mật, xác định những thay đổi này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh như thế nào, nhận định các biến chứng của phẫu thuật c ắt túi mật nội soi, nhận định về chất lượng cuộc sống của người bệnh sau mổ c ắt túi mật nội soi do sỏi. Dựa vào chỉ định mổ, theo dõi sau mổ để biết được những triệu chứng nào xuất hiện sau mổ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, cũng như những triệu chứng nào gây khó chịu cho người bệnh trước mổ và mất đi sau mổ. Từ đó xem lại chỉ định mổ có phù hợp không. Những triệu chứng nào xuất hiện sau mổ thường gặp nhất, nguyên nhân từ đâu và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống người bệnh như thế nào để đưa ra hướng dự phòng và điều trị. Chi phí y tế nhiều ít ra sao. Đó cũng là lý do chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu và đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân sau cắt túi mật nội soi do sỏi tập trung vào các mục tiêu sau đây:
1. Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân trước mổ và sau mổ bằng hai
bộ câu hỏi SF-36 và GIQLI.
2. So sánh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau mổ theo từng nhóm có và
không có triệu chứng.
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục đối chiếu thuật ngữ Anh – Việt
Mục lục
Danh mục các bảng Danh mục các hình Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh sỏi túi mật và sỏi các ống mật 4
1.2 Anh hưởng của bệnh sỏi túi mật đến chất lượng cuộc sống 19
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.3 Thiết kế nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp nghiên cứu 34
2.5 Ghi nhận kết quả 45
2.6 So sánh kết quả 46
2.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 47
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1 Đặc điểm bệnh nhân 48
3.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 50
3.3 Chẩn đoán 52
3.4 Kết quả phẫu thuật 54
3.5 Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 56
3.6 Kết quả cuối cùng 70
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 72
4.1 Đặc điểm sỏi túi mật 72
4.2 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng 73
4.3 Chẩn đoán 75
4.4 Kết quả phẫu thuật 76
4.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 77
4.6 Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 80
KẾT LUẬN 102
KIẾN NGHỊ 104
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

1. Các tác giả (2012), “Kết quả nghiên cứu chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau mổ c t túi mật nội soi do sỏi”, Y học thành phố Hồ Chí Minh. Tập 16, số 4, tr. 14-20.

2. Các tác giả (2012), “Liên quan giữa mô bệnh học và diễn tiến lâm sàng ở bệnh nhân c t túi mật nội soi do sỏi”, Y học thành phố Hồ Chí Minh. Tập 16, số 4, tr. 21-27.106

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TIẾNG VIỆT

1. Nguyễn Tấn Cường, Trần Văn Phơi (2005), “Phẫu thuật nội soi c t túi mật. Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong chẩn đoán và điều trị

sớm bệnh sỏi mật”, Đề tài khoa học cấp nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, tr. 136 – 169.

2. Nguyễn Văn Dũng và cs (2004), “Kết quả điều tra tình hình sỏi mật tại tỉnh Khánh Hòa”, Đề tài nghiên cứu khoa học của bệnh viện tỉnh Khánh Hòa.

3. Nguyễn Văn Hoàng Đạo (2002), “Bước đầu nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng bệnh sỏi túi mật đơn thuần ở tỉnh Cần Thơ có đối chứng bằng phẫu thuật”, Luận án tiến sĩ Học viện Quân Y.

4. Lương Tất Đồng, Võ Văn Quý, Lê Hải Quy (1998), “Phẫu thuật c t túi mật nội soi tại Bệnh viện Giao thông vận tải Trung ương từ 10/ 1996 đến 4/ 2004”, Tạp chí Ngoại khoa, tr. 549 – 551.

5. Nguyễn Đình Hối (1997), “Bệnh sỏi đường mật ở Việt Nam”, Y học TP Hồ Chí Minh, tr. 105 – 116.

6. Nguyễn Đình Hối (2000), “Bệnh sỏi đường mật ở Việt Nam: Những vấn đề đang đặt ra”, Ngoại khoa 2, tr. 1 – 14.

7. Nguyễn Đình Hối và cs (2005), “Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong chẩn đoán và điều trị sớm bệnh sỏi mật”, Đề tài khoa học cấp nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, tr. 26 – 28.

8. Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Mậu Anh (2012), “Siêu âm trong bệnh sỏi đường mật. Sỏi đường mật”, Nhà xuất bản Y học, tr. 215 – 229.

9. Nguyễn Thanh Long, Lê Văn Nghĩa (2005), “Dịch tễ học bệnh sỏi mật. Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong chẩn đoán và điều trị sớm bệnh sỏi mật”, Đề tài khoa học cấp nhà nước, Bộ Khoa học và Công nghệ, tr. 8 – 31.

10. Lê Văn Nghĩa và cs (1999), “Điều tra tỷ lệ sạn mật tại TP. Hồ Chí Minh. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học kỹ thuật y dược chào mừng 300 năm Sài Gòn – TP Hồ Chí Minh”, Báo cáo khoa học Đại hội ngoại khoa Việt Nam lần thứ X, tr.155 – 166.

11. Nguyễn Thụ (2006), “Bài giảng gây mê hồi sức. Gây mê trong mổ nội soi ổ bụng”, Nhà xuất bản Y Học, 2, tr. 311 – 318.

You may also like...

https://thaoduoctunhien.info/nam-dong-trung-ha-thao/    https://thaoduoctunhien.info/