So sánh chiều cao và chỉ số BMI ở hai nhóm tuổi từ 16 – 22 và từ 36 – 42 của một số nhóm dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam năm 2012 – 2013
So sánh chiều cao và chỉ số BMI ở hai nhóm tuổi từ 16 – 22 và từ 36 – 42 của một số nhóm dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam năm 2012 – 2013
Comparison of Height, and body mass index between age groups 16 – 22 and 36 – 42 according to ethnic groups living in Vietnam, 2012 – 2013
Tác giả: Dương Tuấn Linh, Vũ Chiến Thắng, Đoàn Trọng Tuyên
Tóm tắt:
Sức khoẻ, tuổi thọ, và các bệnh lí có liên quan chặt chẽ tới chiều cao và chỉ số khối lượng cơ thể. Trong những năm gần đây, sự tăng trưởng về chiều cao, và thể chất của người Việt Nam được quan tâm rất nhiều trong chính sách y tế. Nghiên cứu mô tả cắt ngang về các chỉ số chiều cao và cân nặng ở hai nhóm tuổi từ 16 – 22 và 36 – 42 đã được thực hiện ở một số dân tộc sinh sống ở các tỉnh/thành trong cả nước, năm 2012. Kết quả cho thấy cả hai giới nam và nữ đều có sự tăng trưởng chiều cao trung bình giữa thanh niên và trung niên, lần lượt là 164,8 cm so với 163,1 cm ở nam giới, và 154,6 cm so với 153,4 cm ở nữ giới. Chiều cao trung bình có sự khác biệt giữa các nhóm dân tộc khác nhau, ở nam giới cao nhất ở dân tộc Nùng (166,7 cm) và thấp nhất ở dân tộc H’Lăng (156,7 cm); ở nữ giới cao nhất ở dân tộc Khơ me (156,3 cm) và thấp nhất ở dân tộc Tà Ôi (148,5 cm). Chỉ số khối lượng cơ thể ở nhóm điều tra cho thấy tình trạng thiếu cân, thừa cân, và béo phì lần lượt chiếm 18,7%, 6,13%, và 0,71%. Chỉ số khối lượng cơ thể cũng phản ánh tình trạng thiếu cân ở người Việt Nam vẫn ở mức độ cao
MÃ TÀI LIỆU
|
Y HỌC DỰ PHÒNG |
Giá :
|
10.000đ
|
Liên Hệ
|
0915.558.890
|

Recent Comments