Thực trạng nhân lực phòng xét nghiệm của trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh, 2012
Thực trạng nhân lực phòng xét nghiệm của trung tâm y tế dự phòng tuyến tỉnh, 2012
Tác giả: Nguyễn Xuân Tùng, Phan Trọng Lân, Hồ Minh Lý
Tóm tắt:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành năm 2012 trên280 cán bộ xét nghiệm (CBXN) làm việc tạicác phòng xét nghiệm (PXN) của 45 Trung tâm y tế dự phòng tỉnh/thành phố. Trong đó, tỉ lệ cán bộ nữ cao hơn cán bộ nam (71,4% so với 28,6%).Số lượng cán bộ trong độ tuổi dưới 30 chiếm tỉ lệ cao nhất (43,9%), tiếp theo là độ tuổi từ 30~40 (23,6%), %), tiếp theo là độ tuổi từ 40~50 (20,7%) và thấp nhất là tỉ lệ CBXN trên 50 tuổi (11,8%). Số CBXN có số năm công tác dưới 5 năm chiếm 20,4%, trên 25 năm chiếm 18,5% và nhóm CBXN có thời gian công tác từ 5-15 năm chiếm 42,2%. Tỉ lệ CBXN có trình đại học là 31,8%,cao đẳng là 13,9%, trung cấp là 35% và sau đại học chiếm 8,2%. Cán bộ đã được đào tạo chuyên ngành xét nghiệm chiếm tỷ lệ cao nhất (62,1%), số cán bộ được đào tạo chuyên ngành sinh học là 20%. Tỷ lệ bác sỹ là 11,8% và thấp nhất là chuyên ngành y tế công cộng (1,8%).Tất cả các PXN đều có văn bản phân công nhiệm vụ cho CBXN. Tỷ lệ PXN đã có triển khai duy trì hệ thống là 88,9%. Tỷ lệ PXN thực hiện quản lý hồ sơ nhân viên và có sự phê duyệt của lãnh đạo là tương đương nhau 93,3%.Trong đó, 73,3% PXN có phân công cán bộ quản lý an toàn sinh học. Tỷ lệ PXN có sơ đồ tổ chức và sơ đồ vị trí các PXN chiếm tỷ lệ thấp nhất 55,6%. Trong số các kỹ thuật các PXN thực hiện,phân lậpvi sinh vật và phân tích hoá lýchiếm tỉ lệ cao tương ứng 95,5%. Có 42,9% CBXN đã từng tham gia các khóa đào tạo về an toàn sinh học. Tỉ lệ CBXN được tham gia các khóa đào tạo đánh giá nguy cơ chiếm tỉ lệ thấp (20%). Cần mở rộng đào tạo, đào tạo lại và hỗ trợ kĩ thuật thường xuyênhàng năm về ATSH cho các PXN
MÃ TÀI LIỆU
|
Y HỌC DỰ PHÒNG |
Giá :
|
10.000đ
|
Liên Hệ
|
0915.558.890
|

Recent Comments