Luận án Nghiên cứu hình thái học loét dạ dày
Luận án Nghiên cứu hình thái học loét dạ dày
Luận án tiến sỹ y học: Trịnh Tuấn Dũng
Chuyên ngành : Giải phẫu học: Năm bảo vệ ; 2000
Hướng dẫn khoa học : PGS.TS Trần Văn Hợp ; PGS.TS Tạ Long
Loét dạ dày tá tràng (LDDTT) là một bệnh mạn tính, diễn biến kéo dài và hay tái phát. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như chảy máu, thủng dạ dày tá tràng, hẹp môn vị, và riêng với loét dạ dày (LDD) còn có thể tiến triển thành ung thư [27], [61], [86]. Tỷ lệ LDDTT khá cao, đối với cả Việt Nam và thế giới [4], [6], [109]. Ước tính có khoảng 5-10% dân số toàn thế giới mắc bệnh này [109]. Ở Việt Nam, theo điều tra của Phạm Khuê và CS. 1979 [4], cũng có khoảng 5-7% dân số miền Bắc có triệu chứng của LDDTT.
Vì e ngại LDD có thể tiến triển thành ung thư nên xu hướng trước đây bệnh thường được điều trị phẫu thuật [86], [100]. Mặt khác, LDD thường ít gặp hơn loét tá tràng (LTT) và đang có xu hướng giảm ở các nước phát triển… [27], [51], [100], [109]. Có lẽ vì thế nên LDD ít được nghiên cứu hơn LTT.
MÃ TÀI LIỆU
|
LA.2000.00517 |
Giá :
|
|
Liên Hệ
|
0915.558.890
|
Ngày nay, nguyên nhân và bệnh sinh của LDD mạn tính đang dần được sáng tỏ. Đặc biệt là từ hơn mười năm trở lại đây, sau những phát hiện quan trọng của Marshall và Warren về mối liên quan của vi khuẩn Helicobacter pylori (HP) trong các bệnh dạ dày tà tràng (DDTT) [70], [104], vi khuẩn này ngày càng được đi sâu nghiên cứu và hiện đang được coi là nguyên nhân chính gây LDDTT [38], [73], [92]. Hơn thế, HP còn được xếp vào nhóm I các yếu tố gây ung thư dạ dày (UTDD) [33], [43]. HP gây viêm teo niêm mạc dạ dày (NMDD) và tiếp đó có thể dẫn đến LDD mạn tính và UTDD [8], [26], [38], con đường và cơ chế còn đang được nghiên cứu.
Việc kết hợp giữa nội soi DDTT và sinh thiết, xét nghiệm mô bệnh học (MBH) không những cho phép chẩn đoán LDD và xác định tình trạng nhiễm HP một cách chính xác mà còn giúp phát hiện nhiều tổn thương có nguy cơ dẫn tới UTDD như viêm teo NMDD, dị sản ruột (DSR) và loạn sản (LS) [32], [85], [87]. Nhiều trường hợp LDD tuy nhỏ nhưng đã tiềm ẩn tổn thương ác tỉnh. Ngược lại, có một số LDD với kích thước khá lớn nhưng lại là loét lành tính [27], [61]. Trong những trường hợp đó, xét nghiệm MBH có vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, với các mảnh sinh thiết nhỏ và nông qua nội soi, chưa đánh giá được những tổn thương ở sâu bên dưới ổ loét. Vì thế, việc nghiên cứu thêm trên các bệnh phẩm LDD được phẫu thuật là rất cần thiết, giúp bổ xung cho phần thiếu sót nói trên.
Về điều trị, hiện nay bệnh LDD (cũng như LTT), chủ yếu được điều trị nội khoa, với các phác đồ phối hợp các thuốc chống loét mới với các kháng sinh diệt HP có hiệu quả thường cho tỷ lệ liền sẹo cao, tốc độ liền sẹo nhanh, ít tái phát [3]. [47], [51]. Tuy nhiên, những biến đổi về BMH và siêu cấu trúc (SCT) tại ổ LDD và niêm mạc vùng xung quanh ổ loét, trước và sau khi liền sẹo diễn biến ra sao, mối liên quan với HP như thế nào ? Những tổn thương vẫn được coi là tiền đề của UTDD như viêm teo NMDD, DSR và LS nói trên có được giải quyết ngay sau đợt điều trị hay vẫn tồn tại sau khi LDD đã liền sẹo? Tình trạng tái phát LDD và diễn biến lâu dài về MBH của NMDD ra sao? Trong thực tế, có một số trường hợp LDD lành tính đã được điều trị bằng phẫu thuật, về phương diện MBH, những trường hợp này có gì đặc biệt ?… Đó là những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành công trình nghiên cứu này nhằm mục đích:
1. Tìm hiểu đặc điểm nội soi, MBH và SCT của LDD qua các bệnh nhân (BN) được nội soi, sinh thiết và một số trường hợp LDD được phẫu thuật.
2. Nghiên cứu những thay đổi về MBH và SCT của NMDD ở BN LDD có nhiễm HP sau đợt điều trị nội khoa ngắn hạn bằng các phác đồ ba thuốc và mới liên quan của những thay đổi đó với kết quả điều trị.
3. Bước đầu theo dõi tình trạng tái phát LDD và diễn biến về MBH của NMDD ở những BN LDD đã được điều trị liền sẹo sau thời gian 6 tháng, 12 tháng và trên 12 tháng.

Recent Comments