Nghiên cứu giá trị của chụp X quang và siêu âm trong chẩn đoán ung thư vú

Luận án Nghiên cứu giá trị của chụp X quang và siêu âm trong chẩn đoán ung thư vú.Ung thư vú (UTV) là loại bênh ung thư (UT) hay gặp nhất ở phụ nữ và cũng là nguyên nhân chính gây tử vong do UT ở nữ giới tại nhiều nước trên thế giới trong đó có Viêt Nam [1],[4],[6],[11],[98].

MÃ TÀI LIỆU

LA.2008.00006

Giá :

50.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

UTV đã được biết đến từ thời rất xa xưa. Hêrêdotus (Sử gia Hy Lạp) và Papyrus (Ai Cập cổ đại 300-2500 trước công nguyên) đã nói về bênh UTV. Hippocrate coi UTV là nan y với hình ảnh người bênh có khối u ác tính ở vú giống như bị càng cua cắp chặt không thể chữa khỏi được. Qua thế kỷ 19, nửa đầu thế kỷ 20, Halsted – Meyer, rồi Patey đã có nhiều nghiên cứu sâu về bênh UTV và đã hoàn chỉnh phương pháp phẫu thuật điều trị bênh này mà ngày nay vẫn còn được áp dụng [3],[11].

Ở Mỹ, theo thống kê năm 2000, tỷ lê mắc UTV chuẩn theo tuổi là 118/100.000 dân và tỷ lê chết là 30/100.000 dân. Năm 2006 trên toàn nước Mỹ có 1.399.790 trường hợp UT mới mắc và 564.830 người tử vong do UT, riêng UTV đã có 212.920 trường hợp mới mắc và 40.970 người tử vong [65].

Tại Pháp mỗi năm có 25.000 phụ nữ mắc và 10.000 người chết vì UTV. Người ta cho rằng ở nước này cứ 10 phụ nữ sống đến 75 tuổi thì có 1 người bị mắc bênh UTV [32].

Ở Châu Á, trước đây UTV được coi là bênh có tỷ lê mắc và tử vong thấp, như tại Nhật Bản, Trung Quốc cả hai tỷ lê này thấp hơn 4 lần so với Bắc Mỹ [3],[6],[7]. Nhưng những theo dõi gần đây cho thấy UTV đang ngày càng trở nên phổ biến hơn, mà nguyên nhân có thể do có những thay đổi lớn về nếp sống cũng như thói quen ăn uống cho phù hợp hơn với nền công nghiêp ngày càng phát triển [6],[11].

Ở Viêt Nam, tỷ lê mắc UTV cũng tăng dần theo từng năm, đến nay đã có suất đô cao nhất so với các bênh UT khác ở phụ nữ tại Miền Bắc và cao

hàng thứ hai ở Miền Nam (sau UT cổ tử cung) [2],[12]. Theo Nguyễn Bá Đức (2003), Hà Nôi, năm 1999 tỷ lê mắc chuẩn theo tuổi của UTV là 21,8/100.000 dân và tại Thành phố Hồ Chí Minh là 17,1/100.000 dân. ước tính chung cho cả nước năm 2000, tỷ lê mắc UTV chuẩn theo tuổi là 17,4/100.000 dân, đứng hàng đầu trong các loại bênh UT ở phụ nữ [6].

UTV là môt căn bênh hết sức phức tạp mà trong những năm qua đã được các nhà khoa học trên thế’ giới nghiên cứu rất nhiều về nguyên nhân, sinh học, cơ chế’ bênh sinh, các phương pháp phát hiên, chẩn đoán và các phương pháp điều trị. Đến nay người ta nhận thấy điều đặc biêt quan trọng và rõ ràng là chẩn đoán, phát hiên sớm UTV đã làm thay đổi bênh sử tự nhiên và làm giảm đáng kể tỷ lê tử vong (30% ở hầu hết các nghiên cứu) [29],[7],[31],[65]. Trong các phương pháp chẩn đoán, phát hiên sớm UTV phải kể đến vai trò quan trọng của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh bao gồm chụp X quang (XQ) và siêu âm (SA) tuyến vú. Đây là hai phương pháp chẩn đoán UTV kết hợp giữa các kỹ thuật kinh điển (XQ) và hiên đại (SA), có đô chính xác cao, kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiên tại tất cả các tuyến y tế’ và chi phí ít tốn kém cho người bênh.

Bênh viên K là môt trong những trung tâm Quốc gia về phòng-chống UT, đã điều trị có kết quả cho nhiều bênh nhân (BN) bị UTV. Đây cũng là nơi đầu tiên trong nước được trang bị máy chụp XQ tuyến vú và đã áp dụng hiêu quả phương pháp chụp XQ và SA chẩn đoán UTV cho nhiều BN, đóng góp môt phần quan trọng vào những thành công trong chẩn đoán và điều trị hiêu quả bênh UTV.

Giá trị chẩn đoán UTV của phương pháp chụp XQ và SA tuyến vú đã được nhiều tác giả trên thế’ giới nghiên cứu và công nhận, nhiều nước đã áp dụng môt cách thường quy và hiêu quả hai phương pháp trên để chẩn đoán bênh UTV.

Ở nước ta trong thời gian gần đây, nghiên cứu và áp dụng hai phương pháp chụp XQ và SA để chẩn đoán UTV ngày càng được chú trọng và phát triển. Tuy nhiên các nghiên cứu còn hạn chế nhiều về số lượng đối tượng nghiên cứu, chưa đánh giá một cách sâu rông về vai trò, vị trí, giá trị cũng như đô phù hợp chẩn đoán UTV của hai phương pháp chụp XQ và SA.

Nhằm góp phần giải quyết các hạn chế’ nêu trên cũng như nâng cao khả năng áp dụng hiệu quả của phương pháp chụp XQ và SA trong chẩn đoán UTV, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu giá trị của chụp X quang và siêu âm trong chẩn đoán ung thư vú” làm luận án tiến sỹ y học với các mục tiêu sau:

1. Nghiên cứu giá trị chẩn đoán của các dấu hiệu tổn thương ung thư vú trên hình ảnh chụp X quang và siêu âm tuyến vú.

2. Nghiên cứu giá trị chẩn đoán ung thư vú của phương pháp chụp X quang và phương pháp siêu âm.

3. Đánh giá độ phù hợp chẩn đoán ung thư vú giữa hai phương pháp chụp X quang và siêu âm.

You may also like...

https://thaoduoctunhien.info/nam-dong-trung-ha-thao/    https://thaoduoctunhien.info/