Đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư vú ở nữ giai đoạn I, II, IIIA tại trung tâm ung bướu bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng

Luận văn thạc sĩ y học Đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư vú ở nữ giai đoạn I, II, IIIA tại trung tâm ung bướu bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng/ Nguyễn Bá Mạnh. 2013.Ung thư vú là loại ung thư hay gặp nhất ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới. Tỷ lệ mắc ung thư vú trên thế giới từ 25-35/100.000 dân. Ở Mỹ ước tính năm 2005 có khoảng 212.930 trường hợp mới mắc và 40.870 phụ nữ chết vì căn bệnh này. Ung thư vú ngày càng gia tăng do các yếu tố về môi trường, di truyền, chế độ ăn và nội tiết [6],[9],[27].

MÃ TÀI LIỆU

 CAOHOC.2017.00324

Giá :

50.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Tại Việt nam, ung thư vú cũng là một trong những ung thư đứng hàng đầu ở phụ nữ. Theo thống kê giai đoạn 2001-2004, ung thư vú có tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi (ASR) ở các tỉnh phía Bắc là 19,6/100.000 dân và ở phía Nam tỷ lệ này là 16,3/100.000 dân[9]. Tại Hà Nội tỷ lệ này trong giai đoạn 2001-2004 là 29,7/100.000 dân và tăng lên 40,3/100.000 dân trong giai đoạn 2005-2008 [2]. Tại Hải Phòng, trong giai đoạn 2001-2009 ung thư vú cũng đứng hàng đầu với tỷ lệ 21,5/100.000 dân [14].

Cho tới nay, việc nghiên cứu phòng chống ung thư vú đang được tiếp tục và ngày càng hoàn thiện. Trên cơ sở sinh bệnh học, ung thư vú đã được xác định là bệnh toàn thân chứ không chỉ là căn bệnh tại chỗ, tại vùng như quan niệm trước đây. Điều trị ung thư vú là sự phối hợp giữa các phương pháp tại chỗ, tại vùng bằng phẫu thuật, xạ trị với các phương pháp toàn thân bằng hóa chất, nội tiết, sinh học, trong đó phẫu thuật đóng vai trò quan trọng nhất, đặc biệt đối với các trường hợp chưa có di căn.

Phẫu thuật điều trị ung thư vú đã được thực hiện từ những năm trước công nguyên. Năm 1882, William Stewart Halsted (1852-1922) đưa ra phương pháp phẫu thuật rộng rãi để điều trị ung thư vú. Đến năm 1948, D.H. Patey (1889 – 1977) và W.H. Dyson đưa ra phương pháp cắt tuyến vú triệt căn cải tiến, so sánh với phương pháp của Halsted thấy có ưu điểm hơn nhiều về thẩm mỹ và nhất là về chức năng. Từ những năm 1970, phẫu thuật Patey trở thành phẫu thuật chuẩn, áp dụng cho các ung thư vú giai đoạn I, II, III [3],[29].

Từ năm 1993, Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng bắt đầu phẫu thuật ung thư vú theo phương pháp Patey và từ đó đến nay đã trở thành phương pháp điều trị phẫu thuật thường quy. Từ năm 2005 đến nay, Trung tâm đã có những cải tiến trong kỹ thuật mổ nạo vét hạch nách, cùng với việc áp dụng sinh thiết tức thì trong mổ đã làm giảm các biến chứng sau mổ, rút ngắn thời gian hậu phẫu cho bệnh nhân. Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị ung thư vú, song chưa có nghiên cứu đánh giá các kết quả mới này một cách chi tiết .

Xuất phát từ tình hình thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư vú ở nữ giai đoạn I, II, IIIA tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng” với 2 mục tiêu sau:

1.    Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân Ung thư vú ở nữ giai đoạn I, II, IIIA được điều trị phẫu thuật tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng.

2.    Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật Ung thư vú giai đoạn I, II, IIIA từ 1/2007 – 12/2011 tại Trung tâm Ung Bướu Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng.

You may also like...