Nghiên cứu những trường hợp mổ lấy thai có tai biến chảy máu tại BV Phụ sản Hà nội từ tháng 1/2011-12/2013

Nghiên cứu những trường hợp mổ lấy thai có tai biến chảy máu tại BV Phụ sản Hà nội từ tháng 1/2011-12/2013/ Nguyễn Hương Trà

Những tiến bộ của phương pháp mổ lấy thai đã mang lại sự an toàn chomẹ và thai trong sinh nở vì thế nó được coi là một trong những thành tựu yhọc xuất sắc nhất trong thế kỷ 20 [1]. Trên thực tế, MLT là một phẫu thuậtphổ biến nhất trên toàn thế giới. Tỷ lệ MLT được tăng lên ở cả những nướcphát triển và đang phát triển. Năm 2007, tỷ lệ MLT ước tính chung trên toànthế giới vào khoảng 15% [2]. Tỷ lệ MLT ở Mỹ từ 20,7% năm 1996 tăng lên31,1% năm 2006, tại Thụy sỹ là từ 2,5% năm 1972 tới 13,6% năm 1999 đến20,4% năm 2004. Tại Anh năm 1980 là 9%, năm 1992 là 13% và đến 2004 là23%. Italia là một trong những quốc gia có tỷ lệ MLT cao nhất trên thế gióilà 40% năm 2005. Tại Australia tỷ lệ MLT là 15,7% năm 1986 và năm 2007là 32,7% [3]. Tại Việt Nam, ở Hà Nội tỷ lệ này là 31,1%, Hồ Chí Minh29,5%, Hải Phòng 20,4%, Cần Thơ 19,4%, Quảng Ninh 18,4%… Còn tại cácBệnh viện sản phụ khoa tuyến cuối tỷ lệ mổ lấy thai này lên tới 40%(BVPSTW qua các năm 1998 là 34,6%, năm 2000 là 35,1%, năm 2005 là39,1%) [4].Xu hướng MLT tăng lên đã làm tăng tỷ lệ một số tai biến, nguy cơtrong những thai kỳ sau như bánh rau bất thường, dọa vỡ tử cung, vỡ tử cung,đặc biệt là chảy máu trong và sau MLT [5].Chảy máu sau đẻ bao gồm chảy máu sau đẻ thường và chảy máu saumổ lấy thai là một trong những nguyên nhân chính gây nên tử vong mẹ vàcon. Ước tính hàng năm, CMSĐ gây ra 140.000 ca tử vong mẹ, mỗi bốn phútthì có một ca tử vong mẹ. Phần lớn những ca tử vong mẹ do CMSĐ xảy ra ởChâu Phi và Châu Á. Ở những nước đang phát triển, CMSĐ có thể gây nên60% ca tử vong mẹ [6]. Tại Việt Nam, tử vong mẹ do CMSĐ chiếm tỷ lệ caonhất. Tại Viện BVBM và TSS từ năm 1986 đến năm 1990, tỷ lệ tử vong mẹ do CMSĐ chiếm 27,5%. Theo Nguyễn Đức Vy, tỷ lệ CMSĐ chiếm 67,4%trong 5 tai biến sản khoa và tử vong mẹ là 66,8% từ 1996-2001 [7].Và mặc dù, vào thời điểm hiện tại, tỷ lệ tử vong mẹ do CMSĐ trên toànthế giới đã giảm xuống nhờ những tiến bộ trong phẫu thuật, hồi sức, thuốcmen nhưng CMSĐ vẫn luôn là một vấn đề trọng tâm của nền y tế thế giới [1].Đã có nhiều nghiên cứu về CMSĐ trên thế giới. Các nghiên cứu đã chỉ rarằng việc đánh giá, chẩn đoán và xử trí nhanh chóng, kịp thời trong CMSĐđặc biệt là xử trí trong CMSMLT có ý nghĩa vô cùng quan trọng với nhữngnhà sản khoa. Nhưng tại Việt Nam, chúng tôi nhận thấy chưa có nhiều nhữngđánh giá, phân tích về CMSĐ mà cụ thể là CMSMLT ở các trung tâm sảnkhoa lớn.Bệnh viện Phụ sản Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa hạng một, có sốlượng sản phụ đến quản lý thai nghén, sinh đẻ vô cùng lớn. Tỷ lệ mổ lấy thaitrong vài năm gần đây tại bệnh viện vào khoảng 40-45% [9]. Những tai biến củamổ lấy thai là không thể tránh khỏi, trong đó tai biến chảy máu sau mổ lấy thai làhay gặp nhất và cũng là nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng đầu. Để hiểu đượcnhững nguyên nhân gây CMSMLT từ đó để có biện pháp phòng ngừa tích cực,chẩn đoán đúng và xử trí kịp thời giảm tỷ lệ tai biến CMSMLT, chúng tôi thựchiện đề tài : “Nghiên cứu những trường hợp mổ lấy thai có tai biến chảy máu tại Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2013”Mục tiêu nghiên cứu:1.Xác định yếu tố nguy cơ, tỷ lệ CMSMLT tại BVPSHN trong 3 năm(01/2011 – 12/2013)2.Phân tích các phương pháp xử trí chảy máu sau mổ lấy thai

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *