Nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp theo phân tầng một số yếu tố liên quan

Nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp theo phân tầng một số yếu tố liên quan.Đột quỵ với hơn 80% là thiếu máu não cục bộ (TMNCB) luôn là vấn đề thời sự của y học trên toàn cầu bởi đây là căn bệnh phổ biến, có tỉ lệ tử vong và tàn tật cao, thực sự là gánh nặng cho gia đình và xã hội, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [104], [111], [121]. Ở một số nơi, tỉ lệ mới mắc các biến cố mạch máu não vượt qua cả các biến cố mạch vành [231]. Mặt khác, tại Mỹ, một thống kê mới nhất cho thấy cứ mỗi 40 giây có một bệnh nhân đột quỵ, mỗi 4 phút có một trường hợp tử vong [111]. Dự báo đến năm 2030, đột quỵ sẽ tăng thêm 20,5% so với năm 2012 [209]. Ở Việt Nam, theo Lê Văn Thành, mỗi năm có khoảng 200000 người mắc bệnh và có tới 50% trường hợp tử vong [23]. Bên cạnh đó, đột quỵ đang có xu hướng ngày càng trẻ hóa, gây ảnh hưởng nhiều đến những đối tượng đang trong độ tuổi lao động và là trụ cột chính trong mỗi gia đình [6], [61], [104], [111].

MÃ TÀI LIỆU

BQT.YHOC. 00202

Giá :

50.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Theo y văn, bệnh nhân đột quỵ TMNCB phải đối mặt với nguy cơ tái phát rất cao, nhất là trong năm đầu tiên [68], [122], [131], [189], [270]. Điển hình, theo Wang và cộng sự (cs), tỉ suất tái phát đột quỵ tích lũy tại thời điểm 1 năm lên tới 17,7% [270]. Hơn nữa, Burn và cs cũng đã chỉ ra rằng nguy cơ tái phát tại thời điểm trên là cao nhất, gấp 15 lần so với dân số chung [68]. Mặt khác, theo các tác giả trong nước, tỉ suất tái phát tại thời điểm 90 ngày và 6 tháng ở mức báo động với các giá trị lần lượt là 10,4% [18] và 20,54% [16].

Nhìn chung, mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong dự phòng nhưng đột quỵ tái phát vẫn chiếm khoảng 25 – 40% tổng số bệnh nhân đột quỵ [74], [111], [121]. Nguy hiểm hơn khi tỉ lệ tử vong, tàn tật và chi phí điều trị của loại đột quỵ này đều cao hơn so với đột quỵ lần đầu [158], [170], [217], [235], [240]. Chẳng hạn, theo Ryglewicz và cs thì nguy cơ tử vong tích lũy tại thời điểm 6 tháng và 1 năm ở nhóm bệnh nhân đột quỵ tái phát đều cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân không tái phát [235].

Chính vì vậy, theo Tổ chức Y tế thế giới và các chuyên gia về đột quỵ thì mặc dù việc điều trị trong giai đoạn cấp có thể làm giảm tỉ lệ tử vong và tàn tật, nhưng chính dự phòng đột quỵ, bao gồm cả đột quỵ tái phát mới mang lại nhiều lợi ích hơn [72], [119], [185]. Để thực hiện tốt điều này chúng ta cần phải biết rõ về tình hình biến động và các yếu tố nguy cơ liên quan theo từng quốc gia, chủng tộc/dân tộc và từng phân nhóm đột quỵ [87], [109], [117], [121].

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đột quỵ tái phát. Hầu hết các tác giả đều tập trung khảo sát tỉ suất tái phát đột quỵ tích lũy theo thời gian với thời điểm phổ biến nhất là 1 năm và các yếu tố liên quan với nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp [154], [235], [252], [270], [279]. Mặc dù giữa các nghiên cứu vẫn còn nhiều điểm chưa được thống nhất [190] nhưng kết quả mà chúng mang lại thực sự có nhiều ý nghĩa khoa học, giúp chúng ta có cách nhìn toàn diện về đột quỵ tái phát, một vấn đề quan trọng nhưng ít được biết hơn so với đột quỵ lần đầu. Ở Việt Nam, tính đến hiện tại, số lượng các đề tài đề cập đến khía cạnh này còn khiêm tốn và hầu như chưa thấy nghiên cứu nào có thời gian theo dõi trung bình lên đến 1 năm [16], [18].

Riêng tại khu vực Tây Nguyên, Đắk Lắk là một tỉnh miền núi, có khí hậu đặc thù và nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống với những phong tục, tập quán, lối sống đa dạng. Đặc biệt, trình độ dân trí của một số bộ phận người dân ở đây chưa cao, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều người đồng bào dân tộc thiểu số. Chính những điều đó đã và đang ảnh hưởng nhiều đến tình hình biến động của đột quỵ, bao gồm cả đột quỵ tái phát. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào khảo sát về vấn đề này. Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu đề tài “Nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp theo phân tầng một số yếu tố liên quan” tại tỉnh nhà là cần thiết với mong muốn góp phần cung cấp thêm những thông tin hữu ích về tình hình đột quỵ tại Việt Nam. Qua đó, chúng ta sẽ có được những biện pháp dự phòng tái phát thích hợp nhằm làm giảm gánh nặng do đột quỵ gây ra.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Xác định tỉ suất tái phát tích lũy sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp theo thời gian (30 ngày, 90 ngày, 6 tháng và 1 năm).
  2. Xác định một số yếu tố có liên quan độc lập với nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp. 

Xem video giới thiệu luận án Nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp theo phân tầng một số yếu tố liên quan

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐÉN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

  1. Đinh Hữu Hùng, Vũ Anh Nhị, Đỗ Văn Dũng (2013), “Tỉ suất tái phát đột quỵ tích lũy sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp”, Tạp chí Y học Thực hành, số 879, tr. 82-85.
  2. Đinh Hữu Hùng, Vũ Anh Nhị, Đỗ Văn Dũng (2013), “Một số yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ tái phát sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp”, Tạp chí Y học Thực hành, số 879, tr. 34-37.

TIẾNG VIỆT

Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn Thị Hương (2012). Các xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng, Nxb Y học, Hà Nội , tr.71-77, 133-138, 359-362,441-445.

Đỗ Văn Dũng (2008). Phương pháp nghiên cứu khoa học và phân tích thống kê với phần mềm STATA 10.0, Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP. HCM, tr. 3-284.

Goldszmidt Adrian J, Caplan Louis R, Nguyễn Đạt Anh (biên dịch) (2012). Cẩm nang  xử trí tai biến mạch não, Nxb Y học, Hà Nội, tr. 3-17, 113-228.
Lê Đức Hinh và nhóm chuyên gia (2008). Tai biến mạch máu não – Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí, Nxb Y học, Hà Nội, tr. 371-385, 635-644.
Nguyễn Thi Hùng (2008). Cơn thiếu máu não thoáng qua, Trong: Lê Đức Hinh và nhóm chuyên gia, Tai biến mạch máu não – Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí, Nxb Y học, Hà Nội, tr.209-216.
Nguyễn Thi Hùng, Nguyễn Văn Dũng (2010). “Khảo sát sự khác biệt về giới, yếu tố nguy cơ, bệnh lý đi kèm, nguyên nhân và hậu quả lâm sàng đột quỵ thiếu máu não cấp theo tuổi”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 14, Số 1, tr. 373 – 382.
Hoàng Khánh (2009). Tai biến mạch máu não – Từ yếu tố nguy cơ đến dự phòng, Nxb Đại Học Huế, tr. 21-25, 41-243.
Hoàng Khánh, Lê Thị Hoài Thư (2006). “Nghiên cứu mối liên quan giữa tổn thương động mạch cảnh ngoài sọ qua siêu âm với nồng độ protein phản ứng C huyết thanh độ nhạy cao ở bệnh nhân nhồi máu não”, http://taibienmachmaunao.com/upload/news/4%20CRP-hs SA%20DMC%20stroke%20HoangKhanh_1312361155_7.pdf.
Đỗ Doãn Lợi và cộng sự (2008). “Khuyến cáo 2008 của Hội Tim mạch học Việt Nam về: Chẩn đoán và điều trị các bệnh van tim (Phần I: Hẹp Van 2 Lá)”, http://timmachhoc.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=337:khuyn -cao-2008-ca-hi-tim-mch-hc-vit-nam-v-chn-oan-va-iu-tr-cac-bnh-van-tim-phn-i-hp- van-2-la&catid=63:bi-dng-sau-i-hc&Itemid=288.
Huỳnh Văn Minh và cộng sự (2008). “Khuyến cáo 2008 của Hội Tim mạch học Việt
Nam: Chẩn đoán, điều trị tăng huyết áp ở người lớn (Phần 1), Khuyến cáo 2008 về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, Nxb Y học, TP. HCM, tr 235-294.

Huỳnh Văn Minh và cộng sự (2008). “Khuyến cáo 2008 của Hội Tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán và điều trị rung nhĩ”, Khuyến cáo 2008 về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, Nxb Y học, TP. HCM, tr. 151-216.
Huỳnh Văn Minh (2012). Giải phẫu học-Hệ Thần kinh-Nội tiết, Nxb Y học, Hà Nội, tr.429-452. 

Nguyễn Đỗ Nguyên (2002). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong y khoa, Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TP. HCM, tr.21-43.

Vũ Anh Nhị và cộng sự (2012). Chẩn đoán và điều trị Tai biến mạch máu não, lưu hành nội bộ, Bộ môn Thần kinh, Đại học Y Dược TP. HCM, tr. 1-90, 176-208.

Vũ Anh Nhị, Lê Văn Tuấn, Trần Ngọc Tài, Trần Thanh Hùng (2003). “Nghiên cứu sự hiểu biết về tai biến mạch máu não trên thân nhân và bệnh nhân tai biến mạch máu não”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 7, Số 1, tr. 81-85.
Vũ Anh Nhị, Bùi Châu Tuệ (2011). “Tiên lượng bệnh nhân nhồi máu não tái phát bằng bảng điểm nguy cơ đột quỵ Essen”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 15, Phụ bản của Số 1, tr.579 – 586.

Cao Phi Phong (2012). Cơn thiếu máu não thoáng qua, Trong: Chẩn đoán và điều trị tai biến mạch máu não, lưu hành nội bộ, Bộ môn Thần kinh, Đại học Y Dược TP. HCM, tr. 18-27.

Cao Phi Phong, Ngô Bá Minh (2011). “Xác định bệnh nhân có nguy cơ cao đột quỵ thiếu máu sau cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc đột quỵ nhẹ bằng thang điểm ABCD2 “, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 15, Phụ bản của Số 1, tr.603 – 608.

Đặng Vạn Phước, Phạm Tử Dương, Vũ Đình Hải, Trần Văn Huy, Vũ Điện Biên, Trương Thanh Hương, Trương Quang Bình (2008). “Khuyến cáo 2008 về chẩn đoán và điều trị rối loạn lipid máu”, Khuyến cáo 2008 về các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa, Nxb Y học, ‘TP. HCM, tr. 476-502.

Lê Văn Thành (2003). “Săn sóc và điều trị tai biến mạch máu não: lợi ích của đơn vị đột quỵ-thực trạng và triển vọng”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, Tập 7,Số 4, tr.1-3.

Trần Công Thắng, Vũ Anh Nhị, Võ Văn Nho (2010). “Nghiên cứu các yếu tố tiên lượng xuất huyết đồi thị liên quan tăng huyết áp”, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh (Đã bảo vệ).

Lê Văn Thành (2008). Cơ sở giải phẫu – sinh lý tuần hoàn não, Trong: Lê Đức Hinh và nhóm chuyên gia, Tai biến mạch máu não – Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí, Nxb Y học, tr. 29-47.

Lê Văn Thính, Trần Viết Lực, Nguyễn Thị Xuyên, Michael Brainin, Lê Hoàng Anh (2010). “Tình hình và thực trạng chăm sóc đột quỵ trong các bệnh viện đa khoa từ tuyến tỉnh trở lên ở Việt Nam”, Nội san, Chuyên đề những tiến bộ trong Thần kinh học, Tập 2, tr. 66-72.

Trần Đức Thọ, Thái Hồng Quang, Nguyễn Lân Việt, Phạm Gia Khải, Đặng Vạn Phước và cộng sự (2009). Khuyến cáo về bệnh Đái tháo đường, Nxb Y học, Hà Nội, tr.11-17.

Nguyễn Văn Thông (2010). “Nghiên cứu hiệu quả điều trị của aspirin trên bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp”, Nội san, Chuyên đề những tiến bộ trong Thần kinh học, Tập 2, tr. 84-98.

Nguyễn Văn Thông, Trần Duy Anh, Hoàng Minh Châu, Lê Quang Cường, Nguyễn Hoàng Ngọc, Nguyễn Thị Tâm (2008). Đột quỵ não: cấp cứu, điều trị, dự phòng, Nxb Y học, Hà Nội, tr. 3-32.

Nguyễn Văn Thông và cộng sự (2013). “Tình hình tử vong trong 10 năm (2003-2012) tại Trung tâm đột quỵ – Bệnh viện trung ương quân đội 108”, http://taibienmachmaunao.com/upload/images/Tu%CC%9B%CC%89%20vong%20 %C4%90Q-V108%20bs%20thong.pdf
Nguyễn Văn Tuấn (2008). Y học thực chứng, Nxb Y học, TP. HCM, tr. 75-105. Việt Nam UNFPA (2010). “Tổng điều tra dân số và nhà ở việt nam năm 2009”,

You may also like...

https://thaoduoctunhien.info/nam-dong-trung-ha-thao/    https://thaoduoctunhien.info/