Sự khác biệt về kết quả thực hiện dịch vụ y tế tại trạm y tế xã ở 3 khu vực nông thôn, thành thị và miền núi Việt Nam năm 2013
Sự khác biệt về kết quả thực hiện dịch vụ y tế tại trạm y tế xã ở 3 khu vực nông thôn, thành thị và miền núi Việt Nam năm 2013
Tác giả: Nguyễn Duy Luật, Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Văn Huy
Tóm tắt:
Nghiên cứu cắt ngang dựa trên phân tích số liệu thứ cấp tại 240 trạm y tế xã/phường (gọi chung là trạm y tế xã) ở 8 tỉnh nằm trong 8 vùng sinh thái Việt Nam năm 2013. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá sự khác biệt về kết quả thực hiện dịch vụ y tế tại trạm y tế xã theo 3 khu vực nông thôn, thành thị và miền núi. Kết quả cho thấy về dịch vụ khám chữa bệnh thông thường: Hầu hết (>90%) các trạm y tế xã của cả 3 khu vực thực hiện được dưới 70% phân tuyến kỹ thuật, không trạm y tế xã nào thực hiện được 80%. Số lượt điều trị nội trú trung bình của người dân là 143,4 lượt/năm, ở thành thị thấp nhất (28,4 lượt/năm), nông thôn cao nhất với 222,6 lượt/năm. Số lượt khám chữa bệnh trong 1 ngày tại trạm y tế xã trung bình là 21,9, thấp nhất ở miền núi (11,5). Số lượt xét nghiệm, cận lâm sàng ở miền núi là thấp nhất, đặc biệt ở khu vực này, siêu âm không được thực hiện. Về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sản phụ khoa: Số lượt khám phụ khoa trung bình là 820,6 lượt/năm, cao nhất ở thành phố (1081,6 lượt/năm), thấp nhất ở miền núi (516,2 lượt/năm), p<0,05. Số lượt đặt vòng tránh thai, nạo phá thai cao nhất ở thành phố, thấp nhất ở miền núi. Về dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ – trẻ em: Số bà mẹ mang thai quản lý tại trạm y tế xã trung bình trên 116 người/ năm, số lượt khám thai/năm trung bình là 354,8 và khám thai đủ trên 3 lần/năm tại trạm y tế xã trung bình chiếm >75%, các chỉ số này đều cao nhất ở thành thị, thấp nhất ở nông thôn. Tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi trung bình là thấp (4,6), trong đó cao nhất ở khu vực miền núi (6,8), p<0,05
MÃ TÀI LIỆU
|
Y HỌC DỰ PHÒNG |
Giá :
|
10.000đ
|
Liên Hệ
|
0915.558.890
|

Recent Comments