Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy giao bào để nghiên cứu ảnh hưởng một số thuốc sốt rét trên giao bào plasmodium

Ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy giao bào để nghiên cứu ảnh hưởng một số thuốc sốt rét trên giao bào plasmodium

Luận án tiến sỹ y học : Đặng Tự

chuyên ngành : Ký Sinh Trùng  : Năm bảo vệ  : 2001

Hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thị Minh Tâm. PGS.TS Phạm Trí Tuệ

Sốt rét là bệnh lây nhiễm chủ yếu do vector truyền, bệnh có tính chất lưu hành địa phương và có khả năng gây thành dịch. Hiện nay bệnh sốt rét vẫn còn là một vấn đề sức khỏc y tế cộng đồng [46] và là một trong những bệnh gây nhiều tổn hại đến nhân lực và tính mạng của con người [80]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên toàn cầu có hơn 200 triệu người mắc bệnh và trên 1 triệu người chết vì căn bệnh này [105] [110][151].
Nước ta đã trải qua chương trình tiêu diệt sốt rét trước kia và phòng chống sốt rét hiện nay đã nấy sinh hai văn để khó khăn về chuyên môn kỹ thuật. Đó là ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc và muỗi sốt rét thay đổi tập tính khi tiếp xúc với hoá chất diệt làm hạn chế việc thực hiện mục tiêu chương trình Quốc gia về phòng chống sốt rét.

MÃ TÀI LIỆU

LA.2001.00538

Giá :

 

Liên Hệ

0915.558.890

Hiện trạng nguy cơ bệnh sốt rét (SR) quay trở lại ở nước ta vẫn còn lớn, mà biểu hiện với những vụ dịch SR 1144 vụ (năm 1991), 115 vụ (năm 1992), số người mắc bệnh 11.091.251 (năm 1991), 1.294.426 (năm 1992)| và tử vong thơm 4.646 người chết (năm 1991) và 2658 (1992)/ hàng năm còn cao [10].
Để hạn chế những khó khăn trên, các biện pháp chuyên môn được thực hiện trong phòng chống SR:
– Giám sát và đánh giá ký sinh trùng (KST) sốt rét kháng thuốc, nhằm giúp cho các nhà chiến lược đưa ra một chính sách thuốc SR phù hợp với từng vùng.
Tuy vậy, khi thử đáp ứng của ký sinh trùng sốt rét với thuốc trong in vitro các nhà nghiên cứu chỉ đánh giá sự nhạy cảm thể vô tính của KST với thuốc và đặc biệt trong in vivo các nhà nghiên cứu thường đánh giá hiệu lực của một thuốc hay một phác đồ chỉ dựa vào đáp ứng của thế vô tính với thuốc SR thông qua chỉ số thời gian cất sốt, thời gian cất KST. Các nhà nghiên cứu chưa quan tâm nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc SR đối với thể hữu giới (giao bào), mà giao bào là một mắt xích trung gian lan truyền bệnh và lây truyền ký sinh trùng SR kháng thuốc.
– Phát hiện bệnh sớm, điều trị kịp thời để ngăn chận dịch và hạn chế từ vong SR ngay ở tuyến đầu, nơi thiều trang bị kính hiển vi, chẩn đoán SR chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng (rét run, sốt, đau đầu và mồ hôi…) [6]. Trong vùng sốt rét lưu hành (SRLH), triệu chứng lâm sàng chưa đủ để loại trừ các bệnh nhiễm trùng khác [53] [121], nhưng những bệnh nhân có dấu hiệu trên thường được chẩn đoán sốt rét lâm sàng (SRLS) và được điều trị một liều thuốc chống SK gọi là điều trị cắt cơn hay điều trị phỏng chứng (dự phòng) hoặc điều trị nghi ngờ (hao vây).
Trong những năm gần đây, số bệnh nhân SRLS được phát hiện và điều trị tại hệ thống y tế bản, xã có xu hướng tăng lên, chiếm 58% (386.593/666.153) trong tổng số bệnh nhân SRLS năm 1995, 67.1% (298.482 / 445.200) năm 1997 và 67,2% (229.511 / 341.529) năm 1999 [8][25]. Thực tế số bệnh nhân được chẩn đoán SRLS trong cả nước là 369,414, số lượt người được điều trị thuốc SR là 1.549.178 người (năm 1998) và 341.529 bệnh nhân SKLS và 1.350.771 số lượt người được điều trị (năm 1999) (8).
Chloroquin, viên SR2 là thuốc SR được sử dụng rộng rãi ở y tế tuyển đầu 4 thập kỷ (1960 – 1990) nay và hiện tại hai loại thuốc này vẫn chiếm hơn 1/2 tổng số thuốc SR trong cả nước, 24 triệu viên CHL và viên SR2 trong tổng số 42 triệu viên thuốc SR các loại (năm 1994) và 5.5 triệu viên trong tổng số 11.5 triệu viên (năm 1997) [25].
Việc sử dụng thuốc SR ở nước ta hàng năm không phải là ít, dẫn đến thường xuyên có áp lực thuốc SR trong cộng đồng dân cư sống ở vùng lưu hành SR và cùng với sự gia tăng sử dụng thuốc SR, KST kháng thuốc cũng có xu hướng tăng lên. Đó chính là mối quan tâm của các nhà dịch tễ học SK cũng như các nhà quản lý chương trình SR của một khu vực hay một Quốc gia, nhưng chưa có nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc SR đối với giao bào và mối liên quan giữa võ tính với giao bào P.falciparum trong thực nghiệm cũng như trong cộng đồng sống vùng SR dưới áp lực thuốc SR ở nước ta.
Mặt khác do KST P. falciparum kháng thuốc SR ngày một tăng nên kế hoạch sử dụng chloroquin và SR2 có hạn chế về mặt số lượng nhưng CHL, viên SR2 vẫn là thuốc chủ yếu cho y tế tuyến đầu. Artemisinin và các dẫn chất có xu hướng tăng về số lượng và dần dần thay thế quinin [4][5]. Artemisinin và dẫn chất cất sốt nhanh, cất KST nhanh nên giảm SR ác tính, giảm tử vong và đã trở thành thuốc đầu tay của thầy thuốc lâm sàng để điều trị SR ác tính và KST kháng thuốc [2][6][14][21][93]. Do đặc tính của ART và dẫn chất là diệt KST thể vô tỉnh nhanh, dẫn đến hạn chế sinh giao bào, nhưng liệu thuốc có tác dụng diệt giao bào không? nếu có thì ở giai đoạn nào của giao bào? về vấn đề này vẫn còn chưa có nghiên cứu ở Việt Nam. Trong khi đó việc nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc SR đối với giao bào P. falciparum, đặc biệt thuốc đã giảm hiệu lực với KST ở một số vùng như CHL, viên SR2 và thuốc chưa giảm hiệu lực như ART, AS hiện nay được đặt ra một yêu cầu cấp bách và thiết thực với hoàn cảnh nước ta. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu "Ứng dụng kỹ thuật nuôi giao bào (gametocyte) để nghiên cứu ảnh hưởng một số thuốc sốt rét trên giao bào Plasmodium falciparum in vitro và in vivo ở Việt nam", nhầm 3 mục tiêu sau:
1. Ứng dụng kỹ thuật nuôi giao bào để nuôi cấy giao bào P. falciparum ở Việt nam.
2. Khảo sát ảnh hưởng một số thuốc sốt rét (artemisinin, chloroquin và pyrimethamin) trên giao bào P. falciparum in vitro.
3. Khảo sát ảnh hưởng một số thuốc sốt rét (artemisinin, artesunat, chloroquin và viên SR2) đến sự sinh giao bào P. falciparum in vivo.

 

You may also like...

https://thaoduoctunhien.info/nam-dong-trung-ha-thao/    https://thaoduoctunhien.info/