ĐỀ TÀI KHOA HỌC THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON < 6 THÁNG TUỔI TẠI XÃ SONG BÌNH, HUYỆN CHỢ GẠO, TIỀN GIANG

ĐỀ TÀI KHOA HỌC THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ HOÀN TOÀN CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON < 6 THÁNG TUỔI TẠI XÃ SONG BÌNH, HUYỆN CHỢ GẠO, TIỀN GIANG
Trần Văn Thanh
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn có vị trí đặc biệt quan trọng
Mục tiêu: Đánh giá thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn của các bà mẹ tại xã Song Bình, huyện Chợ Gạo
Phương pháp: cắt ngang mô tả.
Kết quả: Tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: 38,4%. 38% bà mẹ biết rõ về lợi ích của sữa mẹ; 43,1% biết không đầy đủ; 19% không biết. 36,1% bà mẹ có tư thế cho con bú đúng; 39,4% bà mẹ có tư thế cho con bú chưa đúng hoàn toàn và 24,5% bà mẹ có tư thế cho con bú không đúng. 42,6% bà mẹ cho trẻ ngậm bú đúng; 33,8% bà mẹ cho trẻ ngậm vú chưa đúng hoàn toàn và 23,6% bà mẹ cho trẻ ngậm bú không đúng. Bà mẹ có trình độ trung cấp trở lên; bà mẹ là CB.CNV và bà mẹ có kinh tế gia đình khá có kiến thức, thực hành NCBSM tốt hơn các bà mẹ khác. à mẹ biết rõ về lợi ích của việc NCBSM sẽ thực hành NCBSM tốt hơn bà mẹ biết không đầy đủ và không biết.
Kết luận: tăng cường tuyên truyền, giáo dục về kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ cho các bà mẹ

MÃ TÀI LIỆU

 DTCCS.2023.0106

Giá :

Liên Hệ

0927.007.596

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em đã được đặc biệt quan tâm. Nhiều chương trình Quốc gia nhằm nâng cao sức khỏe trẻ em đã được triển khai trong cộng đồng: chương trình phòng chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp, phòng thấp, phòng chống thiếu vitamin A, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em(1),(2). Nhờ đó mà tình hình sức khỏe trẻ em đã được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên sức khỏe trẻ em Việt Nam vẫn còn mang đặc trưng của một nước đang phát triển. Tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng vẫn đang là vấn đề được quan tâm trong công tác sức khỏe cộng đồng. Dù đã có nhiều cố gắng, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em nước ta vẫn còn ở mức cao.
Trong dinh dưỡng trẻ em, ở các quốc gia đang phát triển, thực hành nuôi dưỡng trẻ em được xem là có vị trí đặc biệt quan trọng. Trong đó nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) luôn được quan tâm vì tính ưu việt của sữa mẹ. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là biện pháp can thiệp hiệu quả nhất để giảm tử vong ở trẻ, điều đó có nghĩa là cho trẻ sơ sinh bú sữa mẹ mà không ăn hoặc uống thêm bất cứ một thức ăn hay chất lỏng nào khác kể cả nước (trừ khi có chỉ định của bác sĩ), sữa mẹ chứa tất cả các chất dinh dưỡng và kháng thể mà em bé cần. Tầm quan trọng, việc duy trì, lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ và các phương pháp nuôi dưỡng trẻ nhỏ luôn được ưu tiên trong các chương trình thông tin, giáo dục, truyền thông về bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, về phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em(3,4).
Theo khuyến cáo Tổ chức Y tế Thế giới, trẻ sơ sinh cần được cho bú sớm (trong vòng một giờ đầu sau sinh) và được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu đời, sau đó ăn bổ sung hợp lý nhưng vẫn duy trì cho bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi. Tuy nhiên, tại nước ta, nhiều người vẫn còn những quan niệm sai lầm dẫn đến những rào cản trong việc nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là trong 6 tháng đầu2
Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia trong năm 2009, chỉ một nửa số trẻ sơ sinh đượcbú sữa mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh, trong đó, tỷ lệ này ở miền núi cao hơn ở thành thị, ở các trạm y tế xã cao hơn ở các bệnh viện và cơ sở y tế tư nhân. Nhiều cha mẹ và ngay cả nhân viên y tế cũng cho rằng người mẹ không có đủ sữa để cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu, đôi khi nhân viên y tế lại khuyên các bà mẹ cho trẻ ăn sữa bột. Tại khu vực thành thị, gần 50% phụ nữ mang thai mang theo các loại sữa thay thế sữa mẹ hoặc sữa bột đến bệnh viện trước khi sinh con(1,3).
Nuôi con bằng sữa mẹ cung cấp sự khởi đầu tốt nhất cho cuộc đời của mỗi trẻ. Do đó việc khảo sát, đánh giá tình hình nuôi con bằng sữa mẹ là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng giúp hoạch định chương trình truyền thông thích hợp trong địa bàn xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, góp phần bảo vệ, gìn giữ tập quán nuôi con bằng sữa mẹ
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Xác định tỉ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT)
2. Xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ đúng
3. Xác định yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành nuôi con bằng sữa mẹ đúng của các bà mẹ

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ môn Dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, Đại học Y Hà Nội (2004),
Dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, Tr 73- 82, 116-120, 148-154.
2. Bộ môn Nhi, Đại học Y Hà Nội (2000), Bài giảng Nhi Khoa tập 1, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr 186- 194.
3. Chu Văn Tường, Nguyễn Công Khanh, Đào Ngọc Diễn (1986), Nuôi con theo khoa học. Nhà xuất bản Hội liên hiệp phụ nữ. Tr. 25-27, 35-36.
4. Hà Huy Khôi, Từ Giấy (1994), Các bệnh thiếu dinh dưỡng và sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr 7 – 19, 21-29.
5. Huỳnh Anh Tú, Nguyễn Vũ Linh (2010), “Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong thời gian nằm viện sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Bán công Bình Dương 2009”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 14, phụ bản của số 2, 2010, tr.366-370
6. Lại Võ Bảo Kha, Nguyễn Thị Thanh (2012), “Đánh giá kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ”, Y học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 16, phụ bản của số 4, 2012, tr.27-35
7. Nguyễn Đình Quang, Phạm Duy Tường (1989), “Góp phần tìm hiểu tập quán nuôi con của các bà mẹ dân tộc Thái ở một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”, Kỷ yếu công trình dinh dưỡng, Viện Dinh Dưỡng – Bộ Y Tế, tr 33-6

You may also like...

https://thaoduoctunhien.info/nam-dong-trung-ha-thao/    https://thaoduoctunhien.info/